NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG VỀ VẤN ĐỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT - MỘT VÀI GỢI Ý VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ThS. Nguyễn Quang Thành - Khoa Nhà nước và Pháp luật
2026-09-08T23:26:22-04:00
2026-09-08T23:26:22-04:00
https://truongchinhtri.dongthap.gov.vn/vi/news/thong-tin-trao-doi/nhung-diem-moi-trong-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-ve-van-de-nha-nuoc-va-phap-luat-mot-vai-goi-y-van-dung-vao-giang-day-chuong-trinh-trung-cap-ly-luan-chinh-tri-176.html
https://truongchinhtri.dongthap.gov.vn/uploads/news/2026_08/thanh.png
Trường Chính Trị Tỉnh Đồng Tháp
https://truongchinhtri.dongthap.gov.vn/uploads/logo1.png
1. Đặt vấn đề
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19 đến ngày 23/1/2026 tại Thủ đô Hà Nội đã đánh dấu một mốc son quan trọng, mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc - kỷ nguyên vươn mình, phát triển nhanh và bền vững. Trên cơ sở tổng kết 40 năm đổi mới và đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Văn kiện Đại hội XIV đã xác định nhiều chủ trương, định hướng lớn, trong đó có không ít điểm mới quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoàn thiện thể chế và pháp luật. Đối với các trường chính trị cấp tỉnh nói chung và Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp nói riêng, việc kịp thời nghiên cứu, quán triệt và đưa những điểm mới của Văn kiện Đại hội XIV vào nội dung giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị (TCLLCT), đặc biệt là học phần “Nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật Việt Nam”, là yêu cầu tất yếu, vừa bảo đảm tính Đảng, tính khoa học, tính thời sự của bài giảng, vừa góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ sở. Bài viết khái quát một số điểm mới nổi bật trong Văn kiện Đại hội XIV về nhà nước và pháp luật, trên cơ sở đó đề xuất một vài gợi ý vận dụng vào công tác giảng dạy chương trình TCLLCT.
2. Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về vấn đề nhà nước và pháp luật
Thứ nhất, khẳng định xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại
Kế thừa và phát triển quan điểm của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Điểm mới đáng chú ý là Văn kiện gắn chặt việc xây dựng Nhà nước pháp quyền với yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Đây là bước phát triển tư duy quan trọng: Nhà nước pháp quyền không còn được tiếp cận thuần túy như một mô hình tổ chức quyền lực mà được xác định là trụ cột, là nền tảng căn bản của quản trị quốc gia hiện đại, gắn với yêu cầu chuyển từ quản lý nặng về mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên pháp luật, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của Nhân dân. Văn kiện cũng đặt ra vấn đề nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ hai, lần đầu tiên đưa khái niệm “thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước” vào Văn kiện, xác định rõ vị trí của từng nhóm thể chế
So với các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIV dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề thể chế phát triển. Đây là lần đầu tiên cụm từ “thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước” được đưa vào Văn kiện Đại hội, gắn với mục tiêu kép: vừa tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, vừa bảo đảm các yêu cầu phát triển bền vững về xã hội, môi trường. Một điểm mới quan trọng khác là Đảng xác định rõ vị trí, vai trò của từng nhóm thể chế trong chỉnh thể thể chế phát triển đất nước: thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế ngành, lĩnh vực khác (văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, quản lý tài nguyên - môi trường...) đều quan trọng. Đồng thời, Văn kiện cũng thẳng thắn, cầu thị chỉ ra hạn chế như: hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn một số quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tiễn; việc tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của người dân và doanh nghiệp tại một số bộ, ngành, chính quyền địa phương còn chậm, chưa thoả đáng, gây nên bức xúc kéo dài... Cách nhìn nhận thẳng thắn này là cơ sở để xác định thể chế, pháp luật là một trong những khâu đột phá chiến lược của nhiệm kỳ mới.
Thứ ba, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo, phát triển
Văn kiện Đại hội XIV đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy lập pháp: từ quan niệm có luật là đủ sang tư duy luật phải tốt, được tổ chức thực hiện nghiêm minh, hiệu quả; từ coi trọng chủ yếu khâu xây dựng pháp luật sang gắn chặt xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh. Pháp luật được xác định không chỉ là công cụ điều chỉnh, quản lý mà phải thực sự trở thành công cụ kiến tạo môi trường phát triển, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Một điểm mới có tính định hướng rõ là yêu cầu lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, là đối tượng phục vụ của pháp luật; xây dựng pháp luật theo phương châm dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện; giảm chi phí tuân thủ; khắc phục tình trạng “luật khung, luật ống”, chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành. Văn kiện nhấn mạnh chủ trương đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, đồng thời tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tinh thần thượng tôn pháp luật trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Định hướng này cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị “Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, xác định là khâu đột phá then chốt
Nếu như trước đây công tác xây dựng, ban hành pháp luật thường được coi trọng hơn thì Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu coi trọng đồng thời cả tổ chức thi hành pháp luật, lấy kết quả thi hành pháp luật làm thước đo trực tiếp của năng lực quản lý nhà nước và mức độ phục vụ Nhân dân. Việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật được gắn chặt với đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia - xây dựng Chính phủ số, chính quyền số, xã hội số - nhằm tăng tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Trên thực tế, việc triển khai chủ trương này đã được thể chế hóa bằng quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật (Quyết định số 192-QĐ/TW ngày 3/6/2026 của Bộ Chính trị), cùng với chủ trương xây dựng, vận hành Cổng Pháp luật quốc gia phục vụ người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật trên môi trường số.
Thứ năm, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, đẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Văn kiện tiếp tục khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, gắn với đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Về cải cách tư pháp, Văn kiện đặt ra yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, hoạt động vì công lý; tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các thiết chế trợ giúp pháp lý, bổ trợ tư pháp; nâng cao hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân được xác định vừa là mục tiêu xuyên suốt, vừa là thước đo mức độ hoàn thiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Một vài gợi ý vận dụng vào giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị
Chương trình TCLLCT hiện hành có học phần “Nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật Việt Nam” trên cơ sở học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, cung cấp cho học viên hệ thống tri thức lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, thực hiện pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tác giả có một số hướng vận dụng cụ thể như sau:
Đối với bài giảng về lý luận chung Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đây là bài có tính nền tảng, cung cấp cho học viên hệ thống quan điểm về bản chất, đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trước đây, nội dung này chủ yếu trình bày Nhà nước pháp quyền như một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước. Với điểm mới của Đại hội XIV, giảng viên cần bổ sung, phân tích sâu hơn luận điểm: Nhà nước pháp quyền không chỉ là mô hình tổ chức quyền lực mà đã được nâng lên thành trụ cột, nền tảng căn bản của quản trị quốc gia hiện đại. Phân tích rõ sự chuyển biến trong tư duy này giúp học viên nhận thức đúng đắn hơn về trách nhiệm của chính mình trong bộ máy nhà nước: không đơn thuần “làm đúng thẩm quyền” mà phải hướng tới quản trị hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân. Giảng viên nên giải thích rõ nội hàm khái niệm “quản trị quốc gia hiện đại”, phân biệt với khái niệm “quản lý nhà nước” theo cách hiểu truyền thống ở các đặc trưng: đề cao trách nhiệm giải trình, sự tham gia của người dân, tính công khai, minh bạch để học viên không nhầm lẫn đây chỉ là sự thay đổi câu chữ. Đồng thời, cần đặt vấn đề nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 như một nội dung thời sự, gợi mở để học viên thảo luận về những vấn đề có thể được đặt ra trong quá trình sửa đổi (tổ chức bộ máy nhà nước, phân công quyền lực, quyền con người...), qua đó rèn luyện tư duy pháp lý cho học viên, thay vì chỉ ghi nhớ thụ động.
Đối với bài giảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, điểm mới về đổi mới tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo, phát triển cần được phân tích không chỉ như một khẩu hiệu mà như một sự chuyển đổi trong quan niệm về vai trò của pháp luật: từ pháp luật với tư cách công cụ quản lý, điều chỉnh, sang pháp luật với tư cách công cụ kiến tạo, phục vụ phát triển. Giảng viên nên giúp học viên phân biệt hai cách tiếp cận này bằng ví dụ cụ thể: một quy định theo tư duy “quản lý” thường thiên về đặt ra điều kiện, thủ tục, chế tài; trong khi một quy định theo tư duy “kiến tạo” hướng tới tháo gỡ rào cản, tạo động lực, khuyến khích sáng tạo. Đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với học viên TCLLCT, bởi phần lớn học viên là cán bộ trực tiếp tham gia soạn thảo, góp ý hoặc tổ chức thực hiện các văn bản, quy định ở cơ sở, vì vậy, việc thấm nhuần tư duy này ảnh hưởng trực tiếp đến cách học viên tham mưu, xử lý công việc tại địa phương, đơn vị mình công tác. Bên cạnh đó, cần phân tích mối quan hệ giữa yêu cầu “luật dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện” với thực trạng một số văn bản, thủ tục hành chính còn rườm rà mà chính học viên thường xuyên gặp phải trong thực tiễn công tác để bài giảng không dừng lại ở lý luận mà thực sự gắn với kinh nghiệm của người học.
Đối với bài giảng về tổ chức thực hiện pháp luật, tổ chức bộ máy nhà nước (trong đó có nội dung về chính quyền địa phương), cần phân tích sâu sự chuyển dịch trọng tâm mà Đại hội XIV đặt ra: từ chỗ coi trọng chủ yếu khâu ban hành pháp luật sang xác định tổ chức thi hành pháp luật là khâu đột phá then chốt, lấy kết quả thi hành làm thước đo năng lực quản lý nhà nước. Đối với nội dung về chính quyền địa phương, đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi chính quyền địa phương chính là chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn cũng chính là vị trí công tác của phần lớn học viên. Giảng viên nên phân tích cụ thể yêu cầu gắn tổ chức thi hành pháp luật với đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số; đồng thời, làm rõ mối liên hệ giữa yêu cầu này với thực tiễn sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính đang diễn ra tại các địa phương, để học viên thấy được tính hệ thống, nhất quán giữa chủ trương của Đại hội XIV với những thay đổi cụ thể mà học viên đang trải qua trong công việc hằng ngày. Đây cũng là dịp để giảng viên tổ chức cho học viên trao đổi, phản ánh những khó khăn, vướng mắc thực tế trong tổ chức thi hành pháp luật ở địa bàn công tác, làm cho bài giảng trở thành diễn đàn trao đổi hai chiều giữa lý luận và thực tiễn.
Đối với nội dung về kiểm soát quyền lực nhà nước, cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nội dung này cần được phân tích trong mối liên hệ chặt chẽ với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, một trong những trọng tâm được Đảng ta đẩy mạnh quyết liệt trong những năm gần đây. Giảng viên nên giúp học viên hiểu rõ bản chất của kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, không phải là “tam quyền phân lập” theo mô hình tư sản mà là sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong một chỉnh thể quyền lực nhà nước thống nhất, thuộc về Nhân dân. Đây là điểm dễ gây nhầm lẫn nếu không được diễn giải thấu đáo, nhất là trong bối cảnh học viên có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin, quan điểm khác nhau từ mạng xã hội. Về cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người, nên lồng ghép các tình huống thực tiễn gần gũi với công tác của học viên như tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, hòa giải ở cơ sở, để học viên vừa hiểu đúng quan điểm của Đảng, vừa biết vận dụng vào xử lý các tình huống cụ thể phát sinh tại địa phương, đơn vị.
Đối với phương pháp giảng dạy, cần chuyển mạnh từ phương pháp thuyết trình một chiều sang các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm - điều này cũng thống nhất với chính tinh thần “lấy người dân làm trung tâm” mà Đại hội XIV đặt ra đối với công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Giảng viên có thể xây dựng các tình huống pháp lý giả định hoặc tình huống thực tế (đã được xử lý, ẩn danh phù hợp) phát sinh từ công tác quản lý nhà nước tại địa phương, tổ chức cho học viên thảo luận nhóm, tranh biện, từ đó tự rút ra những điểm mới trong tư duy xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, thay vì tiếp nhận một cách thụ động. Cách làm này đặc biệt phù hợp với đối tượng học viên TCLLCT, giúp bài giảng vừa có chiều sâu lý luận, vừa gắn với kinh nghiệm nghề nghiệp của người học. Bên cạnh đó, việc cập nhật danh mục tài liệu tham khảo cần được thực hiện một cách hệ thống, không chỉ bổ sung tên văn bản mà cần chỉ rõ cho học viên phần nội dung cụ thể liên quan trực tiếp đến từng bài giảng trong Văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 27-NQ/TW, tránh liệt kê mang tính hình thức. Đồng thời, nên hướng dẫn học viên khai thác Cổng Pháp luật quốc gia và các nguồn học liệu số chính thống như một kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, tự cập nhật - đây cũng là biểu hiện cụ thể của tinh thần chuyển đổi số mà chính Văn kiện Đại hội XIV đặt ra đối với công tác pháp luật. Ngoài ra, cần tăng cường gắn nội dung giảng dạy với hoạt động viết thu hoạch, tiểu luận cuối khóa theo hướng yêu cầu học viên liên hệ, vận dụng những điểm mới của Đại hội XIV để phân tích, đánh giá một vấn đề cụ thể trong thực tiễn công tác của bản thân. Đây là hình thức đánh giá vừa giúp học viên đào sâu nhận thức lý luận, vừa tạo kênh phản hồi hai chiều để giảng viên nắm bắt mức độ vận dụng lý luận vào thực tiễn quản lý nhà nước ở cơ sở, từ đó tiếp tục điều chỉnh, bổ sung nội dung, phương pháp giảng dạy cho phù hợp trong các khóa học tiếp theo.
4. Kết luận
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định nhiều điểm mới quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế và pháp luật, đặt trong tổng thể mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Việc nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và vận dụng linh hoạt, sáng tạo những điểm mới này vào công tác giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị không chỉ bảo đảm tính cập nhật, tính Đảng, tính khoa học của bài giảng, mà còn góp phần trang bị cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ sở nền tảng lý luận vững chắc để vận dụng vào thực tiễn công tác, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng sớm đi vào cuộc sống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
4. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
5. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
6. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị “Nội dung cơ bản về Nhà nước và pháp luật Việt Nam”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 382.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 383.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 377.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 377.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 69.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 126.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 128.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 87.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 88.
Xem thêm: Quyết định số 192-QĐ/TW ngày 03/6/2026 của Bộ Chính trị về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/quyet-dinh-so-192-qd-tw-ngay-03-6-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-thanh-lap-ban-chi-dao-trung-uong-ve-hoan-thien-the-che-va-thu.html, truy cập ngày 31/7/2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 384.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 128.
Tác giả bài viết: ThS. Nguyễn Quang Thành - Khoa Nhà nước và Pháp luật