Tóm tắt:
Bài viết khái quát hai nội dung: Một là, khái quát nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; hai là, tích hợp nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW vào nội dung môn Triết học Mác - Lênin, thuộc chương trình Trung cấp Lý luận chính trị.
Từ khóa: chuyển đổi số; lý luận chính trị; trường chính trị; học liệu số.
1. Đặt vấn đề
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính trị tỉnh đặt ra yêu cầu cao cho mỗi giảng viên là phải gắn lý luận vào thực tiễn. Do vậy, mỗi giảng viên phải chủ động, thường xuyên cập nhật nội dung Nghị quyết, pháp luật vào nội dung bài giảng để tăng tính thời sự, tính mới và định hướng cho học viên trong việc tiếp cận, nhận thức và vận dụng đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn công tác và đời sống. Đặc biệt, đối với giảng viên giảng dạy Triết học, cần định hướng thế giới quan, phương pháp luận cho học viên trong nhận thức và triển khai hiệu quả các Nghị quyết mới vào thực tiễn.
Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là một văn kiện quan trọng, phản ánh sự phát triển trong tư duy lãnh đạo của Đảng. Những quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết có mối liên hệ chặt chẽ với những nguyên lý và quy luật của triết học Mác - Lênin. Vì vậy, việc tích hợp nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW vào môn Triết học là yêu cầu khách quan nhằm tăng tính thời sự, tính thực tiễn và giá trị phương pháp luận của bài giảng.
2. Khái quát nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển
Nghị quyết số 18-NQ/TW được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành ngày 28/7/2026 với năm nội dung chính: I-Tình hình; II-Quan điểm chỉ đạo; III-Mục tiêu; IV-Nhiệm vụ, giải pháp; V-Tổ chức thực hiện.
Một là, về tình hình.
Đảng ta nhấn mạnh quan điểm lấy con người làm trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sau 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hệ thống chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước hoàn thiện, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, quản lý xã hội có nhiều đổi mới.
Tuy nhiên, vấn đề kỷ cương xã hội một số nơi chưa nghiêm, tội phạm diễn biến phức tạp, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền còn lớn, ô nhiễm môi trường và một số mặt văn hoá, đạo đức xuống cấp. Nguyên nhân là do nhận thức và quản trị xã hội có mặt chậm đổi mới; thể chế chưa đồng bộ, kỷ luật thực thi chưa nghiêm.
Vì thế, từ nay đến năm 2045, chúng ta cần phải phát triển theo hướng nhanh hơn, giàu mạnh hơn, bền vững hơn, nhân văn hơn, hài hoà hơn, lấy chất lượng phát triển xã hội, con người, năng lực quản trị quốc gia, mức độ an toàn, niềm vui và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo.
Hai là, về quan điểm.
Đảng ta nêu ra 5 quan điểm chỉ đạo.
Thứ nhất, xem xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là sự nghiệp chung của cả hệ thống chính trị và toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặt trong tổng thể của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường, tiến bộ, công bằng xã hội; không đánh đổi trật tự, kỷ cương và văn hoá lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Thứ ba, tập trung xây dựng con người Việt Nam có lý tưởng, lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm công dân, khát vọng cống hiến cho đất nước và năng lực thích ứng với xã hội hiện đại; kết hợp giữa pháp quyền và đạo đức để từng bước hình thành “trật tự tự thân” của xã hội.
Thứ tư, bảo đảm an ninh con người là mục tiêu, yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm mọi người dân được sống an toàn, hạnh phúc, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Thứ năm, xây dựng quản trị xã hội hiện đại là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược gắn với nâng cao năng lực quản trị quốc gia; chuyển mạnh từ “quản lý xã hội” sang “quản trị và kiến tạo xã hội”, lấy người dân làm trung tâm, khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm động lực.
Ba là, về mục tiêu.
Đảng ta đã xác định mục tiêu tổng quát và 06 mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bốn là, về nhiệm vụ, giải pháp.
Đảng ta đưa ra 08 nhiệm vụ, giải pháp cơ bản:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, thống nhất tư duy và hành động về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
Thứ hai, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và kỷ cương xã hội.
Thứ ba, xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới là chủ thể, nguồn lực và động lực của xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
Thứ tư, xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người và chuẩn mực xã hội Việt Nam thời kỳ mới.
Thứ năm, đột phá xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở.
Thứ sáu, đột phá về bảo đảm an ninh con người toàn diện và xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh.
Thứ bảy, phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân.
Thứ tám, tăng cường hội nhập quốc tế và huy động nguồn lực cho xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
Trong 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trên có 03 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đột phá phải tập trung thực hiện, tạo nền tảng, động lực và lan tỏa: xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, văn hóa Đảng, văn hóa công vụ và kỷ cương xã hội; xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới; xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở.
3. Tích hợp nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW vào môn Triết học Mác - Lênin, thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị
Trên cơ sở nghiên cứu Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/07/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về “Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển”, chúng ta có thể tích hợp nội dung của Nghị quyết vào môn Triết học Mác - Lênin, thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị như sau:
Một là, khi luận giải về thế giới quan duy vật khoa học để nhận thức đúng đắn về việc đánh giá tình hình thực tiễn của đất nước, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã đánh giá thẳng thắng những hạn chế, tồn tại từ thực tiễn khách quan: “trật tự kỷ cương chưa nghiêm, khoảng cách phát triển, thách thức an ninh phi truyền thống...”. Đồng thời, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã vận dụng Triết học Mác-Lênin để nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc. Khi luận giải nội dung chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng, nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW thể hiện tư duy biện chứng khi yêu cầu chuyển mạnh từ “quản lý xã hội” tĩnh tại, thụ động sang “quản trị và kiến tạo xã hội” hiện đại, linh hoạt; nâng cao năng lực dự báo, quản trị rủi ro từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Chính tư duy biện chứng trong quản trị xã hội giúp học viên phân biệt được sự khác nhau giữa phương pháp tư duy siêu hình (xem xét phiến diện, tĩnh tại) và phương pháp tư duy biện chứng (nhìn nhận trong sự phát triển, liên hệ toàn diện).
Hai là, luận giải về quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã làm rõ vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức qua việc khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất, hạ tầng công nghệ số và cơ sở kinh tế đòi hỏi phải thay đổi nhận thức, phương thức quản trị xã hội. Luận giải về tính độc lập tương đối và tác động lại của ý thức đối với vật chất, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng “văn hóa thượng tôn pháp luật”, “văn hóa Đảng”, “văn hóa công vụ”, nâng cao nhận thức, ý thức tự giác để tạo thành “trật tự tự thân” của xã hội; lấy niềm tin xã hội làm thước đo và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất.
Ba là, để làm rõ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã phân tích: xây dựng xã hội là một tổng thể toàn diện; phải bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường và tiến bộ, công bằng xã hội; không đánh đổi trật tự, kỷ cương, môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Bốn là, có thể tích hợp nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW để luận giải cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả: Nhận diện đúng nguyên nhân tồn tại hạn chế để đề ra 3 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đột phá,... Khi luận giải về quy luật lượng - chất, chúng ta có thể tích hợp nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW giải thích về nội dung lượng đổi dẫn đến chất đổi: sự tích lũy những chuyển biến về thể chế, hạ tầng số, giáo dục, văn hóa tạo ra sự thay đổi về chất trong chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc và năng lực quản trị quốc gia đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Năm là, khi luận giải về vai trò thực tiễn là cơ sở, động lực và tiêu chuẩn của nhận thức, có thể tích hợp cơ sở hoạch định Nghị quyết số 18-NQ/TW là xuất phát từ thực tiễn 40 năm đổi mới, phát triển của đất nước và bối cảnh kỷ nguyên mới; việc xây dựng nền quản trị xã hội vận hành trên nền tảng dữ liệu, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; dùng dữ liệu thực tiễn và các bộ chỉ số (SIPAS, HDI, GINI, GCI...) là thước đo kiểm chứng hiệu quả chính sách và năng lực quản trị.
Sáu là, khi luận giải về vai trò của sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, có thể tích hợp Nghị quyết số 18-NQ/TW về phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hiện đại; tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền quản trị hiện đại. Khi giải thích về phương thức sản xuất mới trong kỷ nguyên số, có thể tích hợp Nghị quyết số 18-NQ/TW về chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ứng dụng công nghệ cao, AI, IoT; xây dựng hệ sinh thái dữ liệu quốc gia, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số để nâng cao năng suất và chất lượng sống cho Nhân dân. Khi luận giải về quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, tích hợp nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW về phát triển kinh tế số, dữ liệu số thành tư liệu sản xuất mới; hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật, bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả để giải phóng và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Khi luận giải về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên, tích hợp Nghị quyết số 18-NQ/TW để làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thông qua việc xây dựng mô hình xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
Bảy là, khi luận giải về nội dung của cách mạng xã hội trên lĩnh vực chính trị, Nghị quyết số 18-NQ/TW chỉ rõ: Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững chắc để chủ động phòng ngừa các nguy cơ đe dọa an ninh con người và trật tự xã hội. Khi giải thích về cách mạng xã hội trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã nhấn mạnh: Triển khai đồng bộ hệ giá trị gia đình (hiếu nghĩa, thủy chung, trách nhiệm, yêu thương); quan tâm chăm sóc, bảo vệ trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, phòng chống bạo lực gia đình. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách bình đẳng, đoàn kết các dân tộc, tôn giáo; ưu tiên nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhằm thực hiện cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Để giải quyết mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nghị quyết số 18-NQ/TW đã nêu: Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc đấu tranh không chỉ là phòng, chống tội phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mà còn là giải quyết các khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo, vùng miền (thông qua chỉ số GINI, giảm nghèo bền vững, an sinh bao trùm).
Tám là, khi nhấn mạnh quan điểm con người là chủ thể sáng tạo lịch sử, Nghị quyết số 18-NQ/TW khẳng định nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới bảo vệ con người, bảo đảm an sinh xã hội, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Khi nói về phát triển con người Việt Nam toàn diện trong thời kỳ mới, Nghị quyết số 18-NQ/TW chỉ rõ: Tập trung xây dựng con người có lý tưởng, lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm công dân, khát vọng cống hiến và năng lực thích ứng với xã hội hiện đại; xem an ninh con người là mục tiêu, yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển; bảo đảm mọi người dân được sống trong môi trường an toàn, khỏe mạnh, nhân văn, được thụ hưởng công bằng thành quả phát triển. Khi liên hệ với vai trò của học viên (là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức), Nghị quyết số 18-NQ/TW đặt ra yêu cầu: Đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gương mẫu, có tư duy đổi mới, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”; xây dựng văn hóa công vụ liêm chính, phụng sự Nhân dân.
Chín là, khi luận giải về ý thức pháp quyền, Nghị quyết số 18-NQ/TW khẳng định: Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử, giá trị cốt lõi trong đời sống xã hội. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện văn hóa công vụ và văn hóa Đảng. Khi luận giải về ý thức đạo đức, Nghị quyết số 18-NQ/TW yêu cầu: Bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với văn hóa, đạo đức; “không đánh đổi trật tự, kỷ cương, tiến bộ, công bằng xã hội và các giá trị văn hóa lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Khi luận giải về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, Nghị quyết số 18-NQ/TW chỉ ra: Sự xuất hiện của các hình thái kinh tế mới (kinh tế số, dữ liệu số, xã hội số) và bối cảnh kỷ nguyên mới đòi hỏi sự chuyển đổi về nhận thức, thể chế và phương thức quản trị xã hội. Khi luận giải về tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, Nghị quyết số 18-NQ/TW nhấn mạnh việc dùng các hình thái ý thức xã hội tiến bộ để điều chỉnh hành vi, hướng tới hình thành “trật tự tự thân” của xã hội - nơi người dân tự giác chấp hành quy định dựa trên pháp luật, đạo đức và nếp sống văn hóa. Khi luận giải về các hình thái ý thức xã hội mới, Nghị quyết số 18-NQ/TW đặt ra yêu cầu trong giai đoạn hiện nay cần xây dựng và phát huy năm hệ giá trị, chuẩn mực: Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người và chuẩn mực xã hội Việt Nam thời kỳ mới; đồng thời, xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, nâng cao đạo đức, trách nhiệm và chuẩn mực văn minh trên không gian mạng.
4. Kết luận
Việc tích hợp nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về “Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển” vào giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin, thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị là một yêu cầu khách quan, mang tính thời sự và có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc. Bởi lẽ, đây chính là cầu nối trực tiếp giữa lý luận khoa học và thực tiễn cách mạng, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ bản lĩnh, trí tuệ và năng lực quản trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương (2026): Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021): Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị - Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb. Lý luận chính trị.