Tóm tắt: Chính sách Kinh tế mới do V.I. Lê-nin khởi xướng năm 1921 là sự điều chỉnh có ý nghĩa chiến lược trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô-viết. Từ thực tiễn một nước tiểu nông, kinh tế suy kiệt sau chiến tranh, V.I. Lê-nin chủ trương thay chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực; khôi phục trao đổi hàng hóa - tiền tệ; thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần; sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước và đổi mới phương thức quản lý. Bài viết phân tích giá trị phương pháp luận của Chính sách Kinh tế mới và làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân, nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đổi mới quản trị phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV cùng các nghị quyết mới của Đảng.
Từ khóa: Chính sách Kinh tế mới, V.I. Lê-nin, kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân.
1. Mở đầu
Tháng 3-1921, trong bối cảnh nước Nga Xô-viết vừa ra khỏi nội chiến, sản xuất đình đốn, lưu thông rối loạn và đời sống nhân dân hết sức khó khăn, Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga quyết định chuyển từ Chính sách cộng sản thời chiến sang Chính sách Kinh tế mới (NEP). Đây không phải là sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là sự điều chỉnh về bước đi, hình thức và biện pháp để khôi phục lực lượng sản xuất, củng cố liên minh công - nông và tạo tiền đề vật chất cho công cuộc xây dựng xã hội mới.[1]
Giá trị nổi bật của NEP là phương pháp xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan và biết sử dụng những hình thức kinh tế trung gian trong thời kỳ quá độ. Đối với Việt Nam, NEP không phải một mô hình để sao chép nguyên trạng. Những chỉ dẫn của V.I. Lê-nin chỉ có thể phát huy giá trị khi được vận dụng phù hợp với điều kiện lịch sử, trình độ lực lượng sản xuất, đặc điểm thể chế và mục tiêu phát triển của đất nước. Từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, Đảng ta từng bước hoàn thiện nhận thức về nền kinh tế nhiều thành phần và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, qua đó thể hiện tinh thần đổi mới, sáng tạo tương đồng về phương pháp với NEP.
2.Nội dung
2.1. Giá trị thời đại của Chính sách Kinh tế mới của V.I. Lê-nin
2.1.1. Khẳng định tính khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
NEP được xây dựng trên cơ sở nhận thức rằng nước Nga đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế tiểu nông, lực lượng sản xuất thấp và tồn tại đan xen nhiều hình thức sở hữu. Trong hoàn cảnh đó, không thể bằng mệnh lệnh hành chính xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Cải tạo quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, thông qua những bước trung gian và hình thức quá độ thích hợp. Việc áp dụng thuế lương thực, khôi phục tự do trao đổi trong giới hạn nhất định, cho phép kinh tế tư nhân hoạt động và sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là những hình thức trung gian như vậy.
Giá trị phương pháp luận của quan điểm này là chống cả hai khuynh hướng: nôn nóng, chủ quan muốn thiết lập ngay một cơ cấu kinh tế thuần nhất; hoặc buông lỏng vai trò định hướng của nhà nước vô sản. Thừa nhận nhiều thành phần kinh tế không có nghĩa là từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề quyết định là Nhà nước phải nắm các vị trí then chốt, sử dụng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ kinh tế để định hướng các thành phần cùng phát triển, đồng thời từng bước tạo lập cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội.
2.1.2. Chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính thuần túy sang sử dụng các đòn bẩy kinh tế
Chuyển sang NEP đòi hỏi thay đổi phương thức quản lý tương ứng. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Chính sách kinh tế mới không thay đổi kế hoạch kinh tế thống nhất của nhà nước và không vượt ra ngoài giới hạn của kế hoạch đó, nhưng thay đổi biện pháp thực hiện kế hoạch đó”.[2] Tinh thần cốt lõi là mục tiêu và vai trò điều tiết của Nhà nước vẫn được giữ vững, nhưng biện pháp thực hiện phải phù hợp quy luật kinh tế và lợi ích của các chủ thể.
Trưng thu lương thực thừa được thay bằng thuế lương thực có mức xác định trước; kinh tế tự cung, tự cấp được chuyển dần sang sản xuất hàng hóa; quan hệ hàng hóa - tiền tệ, thương nghiệp, tín dụng và hạch toán kinh tế được phục hồi. Các xí nghiệp nhà nước phải quan tâm đến chi phí, kết quả và trách nhiệm vật chất. Đây là bước chuyển quan trọng từ quản lý trực tiếp bằng cấp phát và mệnh lệnh sang kết hợp kế hoạch với thị trường, quản lý hành chính với phương pháp kinh tế. Bài học này vẫn có ý nghĩa đối với việc xây dựng một nhà nước kiến tạo phát triển: Nhà nước không làm thay thị trường nhưng phải tạo khuôn khổ, định hướng và khắc phục những thất bại của thị trường.
2.1.3. Đặt lợi ích và năng lực sản xuất của nông dân vào vị trí trọng yếu
NEP “bắt đầu từ nông dân” bởi sự ổn định của chính quyền Xô-viết và việc khôi phục toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào khả năng phục hồi nông nghiệp. Thuế lương thực tạo cho nông dân quyền chủ động đối với phần sản phẩm còn lại sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước, từ đó khuyến khích mở rộng sản xuất và lưu thông. V.I. Lê-nin xem đây là một trong “những biện pháp cấp tốc, cương quyết nhất, cấp thiết nhất để cải thiện đời sống của nông dân và nâng cao lực lượng sản xuất của họ”.[3]
Điểm có ý nghĩa lâu dài không chỉ nằm ở một sắc thuế cụ thể, mà ở cách giải quyết quan hệ lợi ích. Khi lợi ích chính đáng của người sản xuất được tôn trọng, chính sách kinh tế mới có thể chuyển động lực cá nhân thành động lực phục hồi và phát triển xã hội. Ngược lại, nếu nghĩa vụ vượt quá khả năng tái sản xuất hoặc người sản xuất không được hưởng thành quả lao động của mình, động lực sản xuất sẽ suy giảm. Vì vậy, chính sách đối với nông dân phải đồng thời bảo đảm nghĩa vụ với Nhà nước, quyền tự chủ sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường.
2.1.4. Củng cố liên minh công - nông trên cơ sở kết hợp chính trị với kinh tế
NEP đặt việc trao đổi sản phẩm giữa công nghiệp và nông nghiệp vào trung tâm của quá trình khôi phục kinh tế. Nông nghiệp cung cấp lương thực, nguyên liệu và thị trường cho công nghiệp; công nghiệp phải cung cấp tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của nông dân. Liên minh công - nông vì thế không chỉ được khẳng định về chính trị mà phải có cơ sở kinh tế bền vững, thể hiện ở quan hệ trao đổi tương đối bình đẳng và cùng có lợi.
Bài học rút ra là phát triển công nghiệp không thể tách khỏi nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Nếu công nghiệp hóa làm suy yếu khả năng tái sản xuất của nông nghiệp hoặc để khoảng cách lợi ích giữa các khu vực ngày càng lớn, nền tảng xã hội của phát triển sẽ bị ảnh hưởng. Ngược lại, nông nghiệp hiện đại cần công nghiệp chế biến, cơ khí, năng lượng, logistics, khoa học - công nghệ và hệ thống dịch vụ. Giải quyết hài hòa mối quan hệ này là điều kiện của phát triển cân đối và bao trùm.
2.2. Vận dụng NEP trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam
2.2.1. Phát triển nhất quán nền kinh tế nhiều thành phần, giải phóng sức sản xuất
Đổi mới do Đảng khởi xướng từ Đại hội VI đã khắc phục từng bước tư duy nóng vội trong cải tạo quan hệ sản xuất, thừa nhận sự tồn tại khách quan và lâu dài của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ. Hiến pháp năm 2013 quy định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.[4]
Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục xác định phải khơi thông, Nghị quyết Đại hội XIV xác định phải “khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực”; đồng thời “phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” .[5] Văn kiện cũng khẳng định “kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giữ vai trò quan trọng”.[5] “yêu cầu thu hút có chọn lọc dự án đầu tư nước ngoài, ưu tiên các ngành công nghiệp công nghệ cao và tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước”.[5] Quan điểm này thể hiện sự phát triển mới về nhận thức: không đồng nhất định hướng xã hội chủ nghĩa với việc thu hẹp cơ học các thành phần kinh tế; định hướng được bảo đảm bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống thể chế, chính sách phân phối và mục tiêu phát triển vì con người.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị yêu cầu xóa bỏ định kiến đối với kinh tế tư nhân, bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng và tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch.[6] Vận dụng tinh thần NEP trong điều kiện hiện nay vì thế không phải là “nhượng bộ” tạm thời cho kinh tế tư nhân, mà là phát huy một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, đặt hoạt động của khu vực này trong khuôn khổ pháp luật, cạnh tranh lành mạnh và trách nhiệm xã hội.
2.2.2. Hoàn thiện cơ chế thị trường gắn với nâng cao năng lực quản trị và định hướng của Nhà nước
Bài học chuyển từ biện pháp hành chính thuần túy sang các đòn bẩy kinh tế được Đảng ta vận dụng trong quá trình xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; đổi mới công tác kế hoạch; trao quyền tự chủ cho đơn vị sản xuất, kinh doanh; hình thành đồng bộ các loại thị trường và quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách. Nhà nước tập trung kiến tạo thể chế, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kết cấu hạ tầng, cung ứng dịch vụ công, bảo đảm an sinh và xử lý các thất bại của thị trường.
Trong giai đoạn mới, đổi mới quản trị phải gắn với khoa học, công nghệ, dữ liệu và chuyển đổi số. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị quốc gia.[7] Đây là sự vận dụng sáng tạo tinh thần NEP: biện pháp quản lý phải thay đổi kịp thời trước yêu cầu mới của lực lượng sản xuất, đồng thời thể chế phải đi trước để khuyến khích sáng tạo, giảm chi phí tuân thủ và giải phóng nguồn lực.
2.2.3. Phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh
Tư tưởng “bắt đầu từ nông dân” của NEP có giá trị gợi mở đối với Việt Nam, nhưng phải được vận dụng trong điều kiện nông nghiệp hàng hóa, hội nhập sâu rộng và yêu cầu chuyển đổi xanh. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII xác định nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế; nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới.[8] Kết luận số 219-KL/TW ngày 26-11-2025 của Bộ Chính trị tiếp tục yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.[9]
Trọng tâm vận dụng là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân; phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp; hoàn thiện liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ; mở rộng tín dụng, bảo hiểm, dịch vụ khoa học - công nghệ và hạ tầng số ở nông thôn. Chính sách không chỉ hỗ trợ đầu vào mà phải nâng cao năng lực thị trường, chất lượng nhân lực và khả năng tham gia chuỗi giá trị của nông dân. Đồng thời, cần thu hẹp chênh lệch về thu nhập, dịch vụ công và cơ hội phát triển giữa thành thị với nông thôn.
2.2.4. Kết hợp nội lực với ngoại lực, chủ động hội nhập quốc tế
NEP cho thấy có thể sử dụng vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và những hình thức kinh tế chưa mang tính xã hội chủ nghĩa để phát triển lực lượng sản xuất, với điều kiện Nhà nước giữ được năng lực định hướng và kiểm soát. Trong điều kiện Việt Nam, bài học đó được vận dụng ở tầm cao hơn thông qua thu hút đầu tư nước ngoài, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp nhận công nghệ và mở rộng thị trường, đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24-1-2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt hội nhập trong tổng thể chiến lược phát triển và bảo vệ Tổ quốc.[10] Yêu cầu đặt ra là chuyển từ thu hút nguồn lực bằng mọi giá sang lựa chọn dự án có công nghệ, quản trị, liên kết và giá trị gia tăng cao; tăng năng lực hấp thụ của doanh nghiệp trong nước; bảo đảm an ninh kinh tế, dữ liệu, năng lượng và chuỗi cung ứng. Ngoại lực chỉ trở thành động lực bền vững khi được chuyển hóa thành năng lực nội sinh.
3.1. Một số yêu cầu trong quá trình vận dụng
Một là, quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể, không đồng nhất NEP với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. NEP là chính sách của nước Nga Xô-viết trong một bối cảnh xác định; Việt Nam vận dụng phương pháp và những gợi mở có giá trị, không sao chép cơ cấu hay công cụ chính sách.
Hai là, xử lý đúng quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Nhà nước không can thiệp hành chính tùy tiện vào hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp, nhưng cũng không buông lỏng quản lý. Thị trường phải vận hành đầy đủ, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh; xã hội tham gia giám sát, phản biện và bảo vệ lợi ích công cộng.
Ba là, gắn phát triển các thành phần kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nhân dân. Hiệu quả của chính sách không chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô đầu tư, mà còn bằng năng suất, việc làm có chất lượng, thu nhập, an sinh, cơ hội phát triển và mức độ bền vững.
3. Kết luận
Chính sách Kinh tế mới của V.I. Lê-nin để lại giá trị bền vững về phương pháp nhận thức và tổ chức thực tiễn trong thời kỳ quá độ: tôn trọng quy luật khách quan; thừa nhận những hình thức kinh tế trung gian; sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ và lợi ích vật chất; đổi mới phương thức quản lý; coi trọng nông dân và củng cố liên minh công - nông trên cơ sở kinh tế.
Sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm Đại hội XIV cùng các nghị quyết mới về kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ, nông nghiệp, nông dân, nông thôn và hội nhập quốc tế tiếp tục làm sâu sắc tinh thần giải phóng sức sản xuất, đổi mới quản trị và kết hợp hài hòa các nguồn lực. Giá trị của NEP chỉ được phát huy đầy đủ khi việc vận dụng luôn bám sát thực tiễn Việt Nam, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và lấy đời sống, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. V.I. Lê-nin (2005), Toàn tập, tập 43, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 244-265.
2. V.I. Lê-nin (2005), Toàn tập, tập 54, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 131.
3. V.I. Lê-nin (2005), Toàn tập, tập 43, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 263.
4. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 51.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.373, tr.261, tr.269.
6. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
7. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
8. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16-6-2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
9. Bộ Chính trị (2025), Kết luận số 219-KL/TW ngày 26-11-2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW.
10. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24-1-2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.