CẢI CÁCH THỂ CHẾ - BƯỚC ĐỘT PHÁ ĐỂ VƯƠN MÌNH

Thứ sáu - 08/05/2026 10:21 47 0
 
Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, yêu cầu xây dựng một nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, hệ thống thể chế hành chính của Việt Nam vẫn những còn tồn tại nhất định, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội và hiệu quả thi hành pháp luật. Do đó, cải cách thể chế luôn được xác định là khâu quan trọng trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam. Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng đã xác định nhiệm vụ đột phá chiến lược giai đoạn 2026 – 2030 là tập trung xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm xử lý dứt điểm các điểm nghẽn, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Do đó, việc nghiên cứu cải cách thể chế để đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống, khả thi không chỉ có ý nghĩa cấp thiết mà còn là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước.
1. Cơ sở lý luận về cải cách thể chế
1.1. Khái niệm thể chế và cải cách thể chế
Theo từ điển Luật học thì thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo.
Thể chế là cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý của nền hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nhận định thể chế bao gồm ba loại chính: thể chế kinh tế; thể chế chính trị và thể chế pháp luật. Về kinh tế, thể chế giúp định hướng thị trường, giảm rủi ro, và thúc đẩy năng suất sản xuất; về chính trị thể chế giúp điều phối nguồn lực, quản lý khủng hoảng và phát triển bền vững; thể chế về pháp luật là hệ thống các quy định, luật lệ, quy tắc, và cơ chế do Nhà nước ban hành, buộc mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội tuân theo, nhằm điều chỉnh mối quan hệ xã hội, quyền lợi, và trách nhiệm. Thể chế được nghiên cứu, phát triển tốt sẽ tạo ra môi trường ổn định, thúc đẩy đầu tư, sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.
Cải cách thể chế là quá trình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
1.2. Vai trò của thể chế trong phát triển
Thứ nhất, thể chế đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một hệ thống pháp lý ổn định, minh bạch góp phần bảo đảm quyền sở hữu, thực thi hợp đồng và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh. Đây là nền tảng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, thể chế hiệu quả còn giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh tế, đặc biệt là hạn chế cơ chế “xin – cho”, qua đó cắt giảm chi phí không chính thức và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Thứ hai, thể chế là điều kiện quan trọng để bảo đảm phát triển bền vững. Thông qua việc thiết lập cơ chế quản trị tốt, chính quyền các cấp có thể triển khai chính sách phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, thể chế góp phần điều tiết và cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội, bảo đảm phân phối nguồn lực công bằng hơn. Đồng thời, các quy định rõ ràng về quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo cơ sở cho việc bảo vệ môi trường, hướng tới mô hình tăng trưởng xanh và phát triển dài hạn.
Thứ ba, thể chế là nền tảng cho việc xây dựng xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền. Một hệ thống pháp luật nghiêm minh, được thực thi công bằng sẽ bảo đảm mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng trước pháp luật, qua đó hạn chế tình trạng lạm quyền. Khi pháp quyền được củng cố, niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước được nâng cao, từ đó thúc đẩy sự tham gia tích cực của xã hội, tăng cường hợp tác và khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong phát triển.
Từ những vai trò quan trọng đó cho nên để thúc đẩy sự phát triển của đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia vấn đề mấu chốt cần làm chính là cải cách thể chế.
1.2. Nội dung cải cách thể chế
Cải cách thể chế ở Việt Nam gắn với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Người dân ngày càng mong muốn có một chính quyền năng động, hiệu quả, có khả năng đáp ứng nhanh, linh hoạt những kỳ vọng của người dân. Theo Nghị quyết 76 /NQ-CP Nghị quyết ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030, cải cách thể chế hành chính nhằm các mục tiêu sau đây: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính nhà nước, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, khoa học, công nghệ; tạo được bước đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy phát triển đất nước; tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức và toàn xã hội. Những nội dung này nhằm hướng tới một nền hành chính minh bạch, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm.
Để đạt được các mục tiêu trên Nghị quyết 76 /NQ-CP cụ thể các nhiệm vụ cải cách thể chế như: tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách pháp luật về tổ chức bộ máy hành chính, chế độ công vụ đầy đủ, đồng bộ; xây dựng, hoàn thiện thể chế về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật. Từ thực tiễn cho thấy công tác xây dựng pháp luật là sẽ là điểm đột phá trong hoàn thiện thể chế; pháp luật phải tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong thực tiễn, trở thành lợi thế cạnh tranh, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển. Song song đó, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi pháp luật, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn hành pháp và pháp luật cũng là nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện.
2. Thực trạng công tác cải cách thể chế và những vấn đề đặt ra
2.1. Kết quả đạt được trong quá trình thực hiện cải cách thể chế
Hệ thống pháp luật Việt Nam đang được hoàn thiện mạnh mẽ và hiện đại, đặc biệt hướng tới giai đoạn phát triển mới. Trọng tâm là xây dựng pháp luật thống nhất, toàn diện, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia, nâng cao chất lượng và tính khả thi. Quá trình này bao gồm rà soát, sửa đổi bổ sung và xây dựng nhiều đạo luật quan trọng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các lĩnh vực trọng yếu như đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, ngân sách, hành chính công… ngày càng được luật hóa rõ ràng hơn. Tính công khai, minh bạch trong xây dựng pháp luật từng bước được cải thiện phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI) cho thấy sự tiến bộ trong minh bạch và cung ứng dịch vụ công, đặc biệt ở các lĩnh vực y tế, giáo dục cơ bản.
Cải cách thủ tục hành chính có chuyển biến tích cực. Cải cách thể chế tạo nền tảng để đơn giản hóa nhiều thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến, góp phần giảm chi phí xã hội. Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) của các bộ, ngành và địa phương có xu hướng tăng, phản ánh nỗ lực cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa nền hành chính
 Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đang ngày càng đồng bộ, hiện đại. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện đáng kể. Cải cách thể chế đã tập trung tháo gỡ các nút thắt pháp lý. Những bước tiến này thúc đẩy sự hình thành các loại thị trường (tài chính, khoa học công nghệ) và khuyến khích kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) những năm gần đây duy trì ở mức cao, nhiều địa phương đạt trên 65–70 điểm, cho thấy môi trường kinh doanh được cải thiện.
Cải cách thể chế tạo nền tảng cho chuyển đổi số, từng bước hình thành chính phủ điện tử, tiến tới chính phủ số. Nhiều quy trình quản lý được số hóa, nâng cao tính minh bạch và khả năng giám sát của cơ quan quản lý nhà nước. Vì vậy, Việt Nam nằm trong nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số tham gia điện tử và dữ liệu mở, đồng thời thuộc nhóm 3 quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về phát triển Chính phủ số.
2.2. Hạn chế, bất cập trong thực hiện cải cách thể chế
Theo đánh giá của Nghị quyết 66 - NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới thì công tác xây dựng và thi hành pháp luật còn nhiều hạn chế, bất cập. Cụ thể, một số chủ trương, định hướng của Đảng chưa được thể chế hoá kịp thời, đầy đủ. Tư duy xây dựng pháp luật trong một số lĩnh vực còn thiên về quản lý. Chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Còn có những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng, cản trở việc thực thi, không thuận lợi cho việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút và khơi thông nguồn lực đầu tư. Việc phân cấp, phân quyền chưa đủ mạnh; thủ tục hành chính còn rườm rà. Tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu; thiếu cơ chế phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả. Chậm nghiên cứu, ban hành chính sách, pháp luật điều chỉnh những vấn đề mới, chưa tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới. Bên cạnh đó, còn phải nhận định thêm trong cải cách thể chế năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế, việc ứng dụng công nghệ trong quản lý hành chính chưa đồng bộ. Những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cải cách thể chế và hiệu lực quản lý nhà nước.
2.3. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong cải cách thể chế
Những hạn chế trong cải cách thể chế ở Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể kể đến một số nguyên nhân như:
Về thể chế, tư duy xây dựng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế, còn nặng về quản lý hành chính; bên cạnh đó, quy trình xây dựng chính sách chưa thực sự hiện đại, còn mang tính khép kín.
Về tổ chức thực hiện, cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật chưa thực sự hiệu quả, sự phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm.
Về yếu tố con người, một bộ phận cán bộ, công chức còn tâm lý e ngại đổi mới, sợ sai, sợ trách nhiệm, đồng thời chưa có cơ chế đủ mạnh để thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực công.
Ngoài ra, bối cảnh phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường và tiến trình chuyển đổi số đã đặt ra những yêu cầu mới mà thể chế chưa kịp thích ứng, cùng với áp lực từ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi cải cách thể chế phải được tiến hành mạnh mẽ và toàn diện hơn.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thể chế phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Để nâng cao hiệu quả cải cách thể chế đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính hệ thống và thực hiện theo Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Các giải pháp đó cần được thực hiện có hệ thống, đồng bộ và mang tính đột phá.
Một là, cần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, thông qua việc chuyển từ quản lý – kiểm soát sang tạo lập môi trường – thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đồng thời áp dụng phương pháp đánh giá tác động chính sách và sử dụng dữ liệu số trong quá trình xây dựng pháp luật. Đồng thời, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm pháp luật có tính ổn định, minh bạch và mang tính dự báo cao.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, nâng cao chất lượng lập pháp trên cơ sở tổng kết thực tiễn và ứng dụng dữ liệu trong hoạch định chính sách.
Ba là, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật cần được coi là khâu then chốt, thông qua tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực, gắn với phân cấp, phân quyền rõ ràng và trách nhiệm giải trình.
Bốn là, cải cách thủ tục hành chính phải được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phát triển chính phủ số nhằm nâng cao tính công khai, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ cho xã hội.
Năm là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất, tư duy đổi mới, đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại, cùng với cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao.
Sáu là, phát huy vai trò phản biện xã hội, tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp, cũng như đẩy mạnh hội nhập quốc tế để tiếp thu kinh nghiệm tốt sẽ góp phần tạo động lực thúc đẩy cải cách thể chế một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
4. Kết luận
Cải cách thể chế là trụ cột quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Cải cách thể chế không chỉ là một nhiệm vụ, mà là điều kiện tiên quyết để khai thác nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nếu không cải cách thể chế, mọi nguồn lực khác như vốn, công nghệ, nhân lực sẽ khó phát huy hiệu quả. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc tiếp tục đổi mới thể chế và nâng cao chất lượng thi hành pháp luật là yêu cầu tất yếu nhằm thúc đẩy phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo
  1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW  ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
  2. Chính phủ (2021), Nghị quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 – 2030.
  3. GS, TS Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình. Tạp chí Cộng sản, ngày 4/5/2025
  4. Ngô Trí Long (2025), Cải cách thể chế để đất nước phát triển bền vững, VnEconomy, https://vneconomy.vn/cai-cach-the-che-de-dat-nuoc-phat-trien-ben-vung.htm (truy cập ngày 8/4/2025)

Tác giả bài viết: ThS. Lê Trần Minh Sa - Khoa Nhà nước & Pháp luật

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây