Tóm tắt: Bài viết đề cao sự dũng cảm và khéo léo của nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vượt qua những mất mát, đau thương do sự tàn bạo của kẻ thù, nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ đã chở che, nuôi cán bộ; đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến; hỗ trợ, kiên trì bám trụ và tham gia cùng với cán bộ, chiến sĩ chiến đấu chống giặc; …tạo thành sức mạnh của ý Đảng lòng dân để dẫn đến chiến thắng lịch sử 30/4/1975, đất nước giành độc lập hoàn toàn và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Qua đó, khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng “Dân là gốc” trong điều kiện đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khoá: Vai trò của nhân dân, Tây Nam Bộ, kháng chiến chống Mỹ.
1. Đặt vấn đề
Trong 21 năm (1954 – 1975) đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Việt Nam phải trãi qua nhiều gian khổ hy sinh và mất mát do tương quan về lực lượng cũng như sự tàn bạo của kẻ thù. Vùng đất Tây Nam Bộ lại có vị thế đặc biệt: đây là nơi Mỹ - Ngụy luôn tìm cách nắm giữ, vì nắm giữ Tây Nam Bộ là làm chủ miền Nam. Tây Nam Bộ không chỉ là vùng căn cứ cách mạng của Khu ủy Khu 9 mà còn là căn cứ của Xứ uỷ Nam Bộ (sau này là Trung ương Cục miền Nam) nên giặc thường tấn công vào vùng đất này. Tuy nhiên, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ luôn tin tưởng vào Đảng, vào thắng lợi của cách mạng và góp công, góp của, góp sức cùng nhân dân Nam bộ, nhân dân cả nước giành thắng lợi trong cuộc chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước.
2. Nội dung
- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Sinh thời, quán triệt quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng trong học thuyết Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy làm cũng được. Người đúc kết rằng:
“Dễ mười lần không dân cũng chịu,
Khó trăm lần dân liệu cũng xong”[i].
Xuyên suốt cách mạng Việt Nam và trong đấu tranh chống Mỹ xâm lược, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân các tỉnh Tây Nam Bộ luôn dựa chắc vào nhân dân. Đồng thời, luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực, toàn diện từ nhân dân.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ được Đảng khẳng định “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[ii]. Chiến công vĩ đại ấy đã giúp Đảng tiếp tục chỉ ra những bài học kinh nghiệm quý báu về: Đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, phương pháp đấu tranh đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể; Chú trọng công tác xây dựng Đảng vững mạnh để lãnh đạo cách mạng; Kết hợp chặt chẽ ba mũi tiến công: chính trị - quân sự - binh vận; …Trong đó, một trong những bài học xuyên suốt là dựa vào dân và phát huy được vai trò, sức mạnh của nhân dân.
- Nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ hăng hái tham gia đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược
Vùng Tây Nam Bộ luôn được Mỹ đặt ở vị trí trọng tâm của chương trình bình định miền Nam Việt Nam và trở thành trọng điểm của chương trình bình định. Với âm mưu này, Mỹ không chỉ muốn chiếm đất, giành dân, giành quyền làm chủ nông thôn mà còn nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Vì vậy, quân đội Mỹ - Nguỵ tiến hành mở nhiều cuộc càn quét với quy mô lớn, đánh phá dài ngày với cường độ cao và sử dụng mọi vũ khí hiện đại nhất, kể cả máy bay B52 để rải bom, gây cho đất và người nơi đây nhiều khó khăn, tổn thất. Mặc dù kẻ thù rất tàn bạo, nhưng nhân dân ở Tây Nam Bộ luôn phát huy tinh thần yêu nước, luôn sắt son và một lòng vững tin vào thắng lợi của cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Chính niền tin ấy đã tạo thành sức mạnh để người dân nơi đây càng dũng cảm chống giặc:
“Kẻ thù càn quét bao nhiêu
Quân dân Đồng Tháp thêm nhiều chiến công”[1]
Bằng tấm lòng và bằng những hành động thiết thực của mình, Tây Nam Bộ nói chung và nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ thực sự trở thành thành đồng Tổ quốc, hậu phương ngay trong lòng giặc, cùng nhân dân cả nước thực hiện mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Vai trò ấy được thể hiện với sự hy sinh và qua những hành động cụ thể:
Thứ nhất, nhân dân Tây Nam Bộ nhường cơm sẻ áo cho cán bộ, chiến sĩ cách mạng; nuôi cán bộ trong các hầm bí mật hoặc thức đêm canh giặc cho cán bộ hội họp. Mọi người dân nơi đây từ già đến trẻ đã dũng cảm, mưu trí, khéo léo tìm cách tiếp tế cho cách mạng lương thực, vũ khí, thuốc. Chính sự chở che, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân đã giúp các chiến sĩ có thể bám đánh giặc và thuận lợi trong hoạt động phá khu ấp chiến lược, xây dựng xã ấp chiến đấu.
Trong đó, tiêu biểu nhất là việc nhân dân nhường cơm, sẻ áo và nuôi cán bộ, chiến sĩ ngay tại các vùng giặc chiếm đóng. Để nuôi cán bộ, người dân xây các hầm bí mật vách đôi ngay tại nhà, tại vườn, tại đồng ruộng. Đôi khi hầm có thể chứa cả tiểu đội du kích; có những hầm chỉ cách đồn giặc khoảng 500 mét nhưng vẫn bảo đảm bí mật và mỗi cán bộ, chiến sĩ hoạt động an toàn. Ngoài ra tại nhiều tỉnh Tây Nam Bộ, các ngôi chùa, các nhà sư, chủ các cơ sở buôn bán cũng tham gia tích cực vào việc xây dựng cơ sở trú ẩn cho cán bộ chiến sĩ. Nhìn bên ngoài, các ngôi chùa vẫn là cơ sở thờ tự, các cơ sở vẫn diễn ra hoạt động sản xuất, buôn bán nhưng thực chất là nơi lãnh đạo, chỉ huy hoặc là nơi giấu cán bộ, giấu lực lượng vũ trang, giấu đạn dược, vũ khí. Một số nơi, ngày thì cán bộ, chiến sĩ ẩn nấp trong các hầm bí mật, nhưng đêm đến lực lượng bung ra thực hiện các hoạt động diệt ác, phá tề cũng như thực hiện xây dựng cơ sở ngay trong lòng giặc.
Thứ hai, nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ đóng góp của cải, vật chất; phát động các phong trào quyên góp tiền, lương thực, bám trụ và trở thành hậu phương ngay trong lòng giặc. Nhân dân bảo vệ và giúp cán bộ, chiến sĩ giữ gìn lực lượng, tấn công, đánh bại các chiến lược chiến tranh của giặc. Tiêu biểu như ở vùng U Minh (nay thuộc tỉnh Cà Mau), nông dân vùng giải phóng thi đua, tích cực đóng góp vào quỹ “Đảm phụ Giải phóng” hoặc phong trào “dập pháo”, tùy loại pháo mà quy ra bao nhiêu ký lúa. Ngoài ra, nhân dân còn tham gia vận tải vũ khí, tải thương và thực hiện vai trò hậu cần. Nhiều nơi, nhân dân quyết tâm bám trụ để chống lại các hoạt động dồn dân, lập ấp chiến lược.
Bên cạnh đó, phụ nữ Tây Nam Bộ - các mẹ, các chị - thường làm bánh tét, bánh ít, bánh dừa… gửi đến “bồi dưỡng” cán bộ, chiến sĩ. Nhiều người mẹ, người chị còn dùng ghe, xuồng, vỏ máy dũng cảm ngụy trang chở thương binh, vũ khí, thuốc, lương thực… qua đồn bót địch an toàn. Tại các nơi khác, nhất là ở Cà Mau – nơi được xem là kho hậu cần bổ sung sức người, sức của chiến lược của Quân khu 9 và khu vực Tây Nam Bộ, bộ đội đi đến đâu cũng được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ tận tình. Các mô hình Hũ gạo nuôi quân, hay Con gà chống Mỹ được các mẹ, các chị đặc biệt tổ chức để cải thiện bữa ăn và sức khỏe cho chiến sĩ.
Thứ ba, nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ, nhất là các cụ già, phụ nữ và trẻ em tại nhiều vùng nông thôn tham gia tạo vũ khí như vót chông, tạo các bẫy chông, bẫy cầu và góp công chống Mỹ. Thông thường, mỗi khi giặc càn vào các xóm ấp, nhân dân gọi nhau khua trống, gõ mõ và vu cho bọn lính là cướp để giải thoát cho cán bộ, chiến sĩ bị giặc bắt. Các mẹ, các chị thì tập hợp lại thành nhóm kêu khóc, níu kéo, tạo nên cảnh hỗn loạn, tạo điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ trà trộn hoặc trốn thoát. Đặc biệt, sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào năm Mậu Thân (1968), nhân dân tại các khu vực đô thị đã xung phong dẫn đường giúp nhiều cán bộ, chiến sĩ về căn cứ an toàn.
Có thể thấy rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng kết hợp với tinh thần, truyền thống yêu nước được nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ đã, đang biến thành sức mạnh và hành động cụ thể. Ngày nay, họ tiếp tục thể hiện rõ nét vai trò chủ thể trong xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, trong xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao và góp phần vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước.
3. Kết luận
Tổng kết 40 đổi mới, “Dân là gốc” được Đảng khẳng định là một trong những bài học kinh nghiệm hàng đầu giúp cách mạng giành được thắng lợi và cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng khẳng định: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”[2]. Tin rằng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, với sức mạnh to lớn, nhân dân các tỉnh Tây Nam Bộ sẽ tiếp tục phát huy vai trò là gốc, tiếp tục đóng góp xứng đáng để đưa nước ta vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới./
Tài liệu tham khảo
- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp (2014), Địa chí tỉnh Đồng Tháp, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sư thật, Hà Nội.
- Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2011), Lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1954-1975, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[1] Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp (2014), Địa chí tỉnh Đồng Tháp, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, trang 712.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, trang 120-121.