KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC DƯỚI GÓC NHÌN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
ThS. Nguyễn Quốc Bình - Phó trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật
2026-11-02T20:43:47-05:00
2026-11-02T20:43:47-05:00
https://truongchinhtri.dongthap.gov.vn/thong-tin-trao-doi/khat-vong-phat-trien-dat-nuoc-phon-vinh-hanh-phuc-duoi-goc-nhin-ly-luan-va-thuc-tien-219.html
https://truongchinhtri.dongthap.gov.vn/uploads/news/2026_11/thay-binh.png
Trường Chính Trị Tỉnh Đồng Tháp
https://truongchinhtri.dongthap.gov.vn/uploads/logo1.png
Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc thể hiện ý chí tự cường và mục tiêu phát triển toàn diện của dân tộc Việt Nam. Bài viết làm rõ nội hàm phồn vinh, hạnh phúc; khái quát thành tựu đổi mới, những động lực và thách thức trong giai đoạn mới. Từ đó, đề xuất các giải pháp về thể chế, nguồn nhân lực, văn hóa và con người, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng Đảng, hệ thống chính trị nhằm chuyển khát vọng phát triển thành hành động và kết quả thiết thực, nâng cao đời sống Nhân dân.
Từ khóa: khát vọng phát triển; phồn vinh; hạnh phúc.
1. Nhận thức về khát vọng phát triển
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, tự chủ chiến lược, phát huy sức mạnh văn hóa và con người, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng cấp thiết. Vì vậy, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không chỉ là giá trị tinh thần mà cần được chuyển hóa thành mục tiêu, chính sách, nguồn lực và kết quả cụ thể. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, hướng tới một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc [4].
“Phồn vinh” là trạng thái phát triển cao, toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; trong đó tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với ổn định, tiến bộ và công bằng xã hội. “Hạnh phúc” không chỉ được đo bằng thu nhập hay mức sống vật chất mà còn thể hiện ở chất lượng sống, quyền con người, cơ hội phát triển bình đẳng, môi trường an toàn và khả năng thụ hưởng các giá trị văn hóa, tinh thần. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng khẳng định giá trị của độc lập phải gắn với tự do, hạnh phúc của Nhân dân: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [6]. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá chất lượng phát triển bằng những thay đổi thực chất trong đời sống người dân.
Đại hội XIII đã nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc [3]. Đại hội XIV tiếp tục phát triển tư duy này trong bối cảnh mới, gắn khát vọng với tự chủ chiến lược, tự cường, đổi mới mô hình tăng trưởng và phát huy các động lực mới. Điểm cốt lõi là chuyển từ khát vọng ở phương diện tinh thần sang tổ chức thực hiện thông qua thể chế đồng bộ, nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng lực quản trị quốc gia [4]. Do đó, khát vọng chỉ có ý nghĩa khi được cụ thể hóa bằng mục tiêu rõ ràng, phân công trách nhiệm, nguồn lực phù hợp và cơ chế kiểm tra kết quả.
2. Thành tựu và thách thức
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ một nước nghèo, kém phát triển thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, tiềm lực và vị thế quốc tế được nâng lên. Theo Cục Thống kê, năm 2025 GDP tăng 8,02%, tạo thêm nguồn lực cho các mục tiêu phát triển [9]. Một số chỉ báo xã hội cũng cho thấy đời sống người dân được cải thiện: tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ khoảng 4,2% năm 2022 xuống 1,3% năm 2025; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2%; tuổi thọ trung bình đạt 74,8 năm; thu nhập bình quân người lao động khoảng 8,4 triệu đồng/tháng năm 2025 [4]. Việt Nam đạt chỉ số phát triển con người HDI 0,766 và thuộc nhóm phát triển con người cao [11]. Những kết quả này góp phần củng cố niềm tin, tạo nền tảng và động lực cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Trong giai đoạn mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có vai trò ngày càng quan trọng đối với năng suất, phương thức quản trị và chất lượng dịch vụ công. Kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập quốc tế cũng mở ra dư địa phát triển mới. Các định hướng này đã được cụ thể hóa trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021–2030, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.
Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa khát vọng vẫn đối mặt với nhiều thách thức: chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động chưa thật sự bền vững; khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền còn lớn; chất lượng nguồn nhân lực và năng lực khoa học - công nghệ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền kinh tế số; một bộ phận cán bộ còn biểu hiện né tránh, sợ trách nhiệm; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, an ninh mạng, cạnh tranh chiến lược và nguy cơ tụt hậu công nghệ tiếp tục tạo sức ép. Những vấn đề này đòi hỏi đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực quản trị và tổ chức thực hiện chính sách hiệu quả hơn.
3. Một số giải pháp hiện thực hóa khát vọng phát triển
Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển. Cần rà soát, xử lý quy định chồng chéo, điểm nghẽn và chi phí tuân thủ bất hợp lý; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Hoạt động của bộ máy nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo, phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Hiệu quả thực thi phải được đánh giá bằng kết quả đầu ra, tiến độ giải quyết công việc và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu mới. Giáo dục, đào tạo cần gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, ưu tiên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và quản trị số. Đối với cán bộ, công chức, viên chức, cần coi trọng năng lực thực thi, tư duy đổi mới, năng lực số, khả năng tham mưu chính sách và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Công tác tuyển dụng, đánh giá, sử dụng và đãi ngộ phải thực chất, tạo điều kiện phát hiện, trọng dụng nhân tài.
Thứ ba, phát huy văn hóa và con người Việt Nam thành nguồn lực nội sinh. Khát vọng phát triển cần được chuyển thành chuẩn mực hành động, tinh thần trách nhiệm và văn hóa cống hiến. Cần đề cao trung thực, kỷ luật, sáng tạo, lòng yêu nước và ý thức công dân; xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, đồng thời bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và các dịch vụ thiết yếu một cách công bằng. Thành quả phát triển cần được lan tỏa tới các nhóm dân cư và vùng miền, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Thứ tư, tạo đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cần tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; phát triển hạ tầng số, dữ liệu và nguồn nhân lực công nghệ. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải có trách nhiệm, bảo đảm an toàn thông tin, quyền riêng tư và khả năng kiểm chứng. Trong khu vực công, chuyển đổi số cần hướng đến quản trị dựa trên dữ liệu, dịch vụ công thuận tiện, minh bạch và chủ động, tránh hình thức hoặc chỉ số hóa quy trình cũ mà không cải tiến cách làm.
Thứ năm, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của Nhân dân. Cần tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đề cao trách nhiệm nêu gương, kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung, phân biệt rõ sai phạm do vụ lợi với những sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ một cách có trách nhiệm. Đối với các trường chính trị và đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, cần đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, tăng cường nghiên cứu chính sách, năng lực số và kỹ năng tham mưu; góp phần hình thành đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, năng lực hành động và tinh thần phụng sự Nhân dân.
Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc kết tinh mục tiêu cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nước và ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam. Thành tựu sau 40 năm đổi mới tạo nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, song những thách thức về năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoảng cách phát triển và năng lực quản trị đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn.
Tinh thần Đại hội XIV đặt ra yêu cầu biến khát vọng thành hành động; gắn tự chủ với tự cường; lấy thể chế, con người, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm những động lực quan trọng; bảo đảm tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao hạnh phúc của Nhân dân. Thước đo cuối cùng của phồn vinh không chỉ là quy mô nền kinh tế mà còn là chất lượng sống, cơ hội phát triển và mức độ người dân được thụ hưởng thành quả. Đây là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể Nhân dân, trong đó cán bộ, đảng viên và giảng viên lý luận chính trị cần tiên phong trong nghiên cứu, tuyên truyền và lan tỏa khát vọng phát triển đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021; 2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Cục Thống kê - Bộ Tài chính (2026), các báo cáo và thông tin thống kê kinh tế - xã hội năm 2025, https://www.gso.gov.vn.
5. United Nations Development Programme (2025), Human Development Report 2025 – Statistical Annex, Human Development Index table, https://hdr.undp.org.
Tác giả bài viết: ThS. Nguyễn Quốc Bình - Phó trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật