KHI LỊCH SỬ ĐẢNG “BƯỚC RA” KHỎI TRANG SÁCH TỪ BỐN CÂU HỎI VỀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN BỐN NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI CÁN BỘ

Thứ bảy - 24/10/2026 05:05 28 0
Một tờ giấy khổ lớn được trải giữa bàn. Người dò lại giáo trình, người đối chiếu dữ kiện, người ghi nhanh những ý vừa được tranh luận. Bốn nhóm học viên lớp Trung cấp lý luận chính trị A05 không được giao nhiệm vụ kể lại Cách mạng Tháng Tám theo trình tự sự kiện. Họ phải đi vào những câu hỏi khó hơn: trong nhiều nhiệm vụ, vì sao phải chọn đúng việc cần ưu tiên; làm thế nào tập hợp được lực lượng rộng rãi; nguồn lực vật chất và tinh thần tạo nên sức mạnh ra sao; và vì sao tranh thủ quốc tế vẫn phải giữ độc lập, tự chủ. Từ một giờ học lịch sử, bốn từ khóa dần hiện ra: CHỌN ĐÚNG – TẬP HỢP ĐÚNG – HUY ĐỘNG ĐÚNG – KẾT HỢP ĐÚNG.
Không dạy lịch sử như một “kho đáp án”
Trong Bài 2 của Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị, học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, phần về thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ trình bày ý nghĩa lịch sử. Giáo trình nhấn mạnh những thành tựu về lý luận và thực tiễn: giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc - giai cấp, dân tộc - dân chủ; đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa; tạo dựng nguồn lực tinh thần; phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường.
Nếu các kết luận ấy chỉ được truyền đạt theo lối “nêu - giải thích - ghi nhớ”, học viên có thể thuộc bài nhưng chưa chắc đã nhìn thấy logic của sự lựa chọn, tổ chức và hành động. Trong khi đó, học viên trường chính trị phần lớn là cán bộ đang hoặc sẽ trực tiếp giải quyết công việc ở cơ sở. Điều họ cần không chỉ là biết một sự kiện đã diễn ra như thế nào, mà còn phải học được cách đặt câu hỏi trước một tình huống mới.
Vì vậy, bốn câu hỏi thảo luận được thiết kế theo hướng đưa người học từ lịch sử đến phương pháp tư duy. Sau phần trao đổi, nội dung được hệ thống hóa thành bốn từ khóa. Cách làm này giúp tách rõ hai lớp: dữ kiện lịch sử phải chính xác; còn phần vận dụng phải được kiểm chứng bằng logic, điều kiện và thẩm quyền của thực tiễn hiện nay.
Ảnh: Học viên lớp TCLLCT A05 trao đổi, đối chiếu tài liệu và hoàn thiện sản phẩm thảo luận.
CHỌN ĐÚNG: xác định việc quan trọng nhất cần giải quyết trước
Câu hỏi dành cho nhóm thứ nhất đi thẳng vào một thành tựu lý luận quan trọng: vì sao Đảng xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc phải đi trước những nhiệm vụ khác, kể cả vấn đề điền địa; và bài học ấy có thể vận dụng như thế nào trong ra quyết định lãnh đạo hiện nay?
Nội dung thảo luận xác định trong hoàn cảnh 1939-1945, mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc, phát xít xâm lược. Nếu dân tộc không giành được độc lập thì quyền lợi của các giai cấp, tầng lớp không thể được bảo đảm. Vì vậy, phải tập trung vào nhiệm vụ cấp bách, có tính quyết định là giành độc lập dân tộc. Ưu tiên nhiệm vụ dân tộc không đồng nghĩa phủ nhận vấn đề giai cấp hay ruộng đất; điều cốt lõi là xác định đúng thứ tự ưu tiên trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Khi chuyển sang thực tiễn công tác, chuỗi tư duy được hệ thống hóa rất rõ: nhận diện đúng vấn đề → xác định việc cốt lõi → tập trung nguồn lực → giải quyết dứt điểm → chuyển sang nhiệm vụ tiếp theo. Một cơ quan có thể đồng thời gặp khó khăn về nhân sự, phối hợp, tiến độ và chuyển đổi số. Nếu dàn đều nguồn lực cho tất cả, điểm nghẽn chi phối có thể vẫn tồn tại. Bài học vì thế không phải “làm một việc duy nhất”, mà là biết việc nào phải được giải quyết trước để mở đường cho những việc còn lại.
Bài học không phải làm tất cả cùng lúc, mà là xác định đúng việc quan trọng nhất cần giải quyết trước.
TẬP HỢP ĐÚNG: đồng thuận không có nghĩa mọi người phải giống nhau
Câu hỏi thứ hai chuyển từ “chọn việc” sang “tập hợp người”: việc tập hợp mọi tầng lớp nhân dân đã đóng góp thế nào vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám; và nguyên tắc ấy có thể vận dụng ra sao trong xây dựng sự đồng thuận trong quản lý, phát triển cộng đồng hiện nay?
Nội dung được hệ thống hóa theo bốn ý: cách mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân, không phải của một giai cấp hay một nhóm nhỏ; Đảng và Mặt trận Việt Minh tập hợp rộng rãi các giai cấp, tầng lớp và lực lượng yêu nước trên cơ sở mục tiêu chung là độc lập dân tộc; từ đó hình thành lực lượng chính trị rộng lớn, kết hợp với lực lượng vũ trang để tạo sức mạnh tổng hợp; đại đoàn kết biến mục tiêu của Đảng thành hành động của đông đảo nhân dân.
Phần vận dụng đưa khái niệm “đại đoàn kết” về một bài toán rất gần với quản lý: phải xác định lợi ích chung, tôn trọng sự khác biệt, tạo cơ chế để các bên cùng tham gia, phân công rõ vai trò, công khai thông tin và đòi hỏi người đứng đầu phải biết kết nối chứ không chỉ ra lệnh.
Điểm cần chuẩn hóa là sự khác nhau giữa đồng thuận và đồng nhất. Đồng thuận là cùng thống nhất về mục tiêu lớn và nguyên tắc hành động, dù các chủ thể vẫn có thể khác nhau về cách nhìn hoặc lợi ích cụ thể. Muốn tập hợp được nhiều người, trước hết phải tìm được điểm chung đủ lớn để mọi người cùng hành động.
HUY ĐỘNG ĐÚNG: sức mạnh của tổ chức còn nằm ở “phần chìm”
Câu hỏi thứ ba yêu cầu nhìn nguồn lực theo cả hai phía: vật chất và tinh thần. Những lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa tạo ra lợi thế gì; còn niềm tin, kinh nghiệm, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường đã tạo nên sức mạnh như thế nào?
Nội dung được hệ thống hóa thành hai lớp. Lớp vật chất gồm lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa, tổ chức Đảng và các đoàn thể cứu quốc. Lớp tinh thần gồm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, kinh nghiệm đấu tranh qua các cao trào cách mạng và niềm tin vào sức mạnh của chính nhân dân.
Khi liên hệ với xây dựng tổ chức, một hình ảnh dễ nhớ được đặt ra: nguồn lực vật chất là “phần nổi”; niềm tin, trách nhiệm, kỷ luật, kinh nghiệm và tinh thần chủ động là “phần chìm”. Một tổ chức mạnh không chỉ cần con người, kinh phí, công nghệ; còn cần niềm tin, trách nhiệm, kỷ luật, kinh nghiệm và tinh thần chủ động. Có người chưa chắc đã có lực; chỉ khi con người có chung mục tiêu, niềm tin và cách phối hợp thì mới hình thành sức mạnh tổ chức.
KẾT HỢP ĐÚNG: ngoại lực chỉ có ý nghĩa khi làm cho nội lực mạnh lên
Câu hỏi thứ tư đặt người học trước quan hệ giữa tranh thủ quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ. Nội dung thảo luận chỉ ra: Đảng biết tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi, chủ động thiết lập và mở rộng quan hệ với các lực lượng quốc tế, nhưng không ỷ lại hoặc phụ thuộc; sức mạnh quyết định vẫn phải được xây dựng từ nội lực dân tộc.
Từ đó hình thành hai cặp quan hệ dễ nhớ: sức mạnh dân tộc + sức mạnh thời đại; nội lực + ngoại lực, nhưng phải đặt trên tinh thần chủ động - sáng tạo - tự lực - tự cường. Đây là chỗ người học phải phân biệt rất rõ giữa hợp tác và lệ thuộc.
Trong quản lý tổ chức hoặc dự án hiện nay, có thể tiếp nhận công nghệ, học kinh nghiệm bên ngoài, thu hút chuyên gia, huy động nguồn vốn, hợp tác với đối tác; nhưng phải giữ quyền xác định mục tiêu, năng lực ra quyết định, khả năng tự vận hành, năng lực nhân sự nội bộ và khả năng tiếp tục hoạt động khi bên hỗ trợ rút đi. Kết luận được cô đọng thành một mệnh đề: ngoại lực chỉ thật sự có giá trị khi nó làm cho nội lực mạnh lên.
Bốn câu hỏi, một khung năng lực
Nhìn bề ngoài, đây là một hoạt động thảo luận nhóm. Nhưng nếu chỉ gọi đó là “đổi mới phương pháp” thì chưa đủ. Điều đáng chú ý hơn nằm ở sự chuyển dịch của người học: từ nhớ kết luận lịch sử sang giải thích logic của kết luận; từ giải thích sang lựa chọn; từ lựa chọn sang vận dụng.
CHỌN ĐÚNG → TẬP HỢP ĐÚNG → HUY ĐỘNG ĐÚNG → KẾT HỢP ĐÚNG
Bốn động từ tạo thành một chuỗi tư duy liên hoàn. Muốn lãnh đạo đúng phải biết xác định nhiệm vụ ưu tiên. Muốn biến ưu tiên thành hành động phải tập hợp được lực lượng và tạo đồng thuận. Muốn lực lượng hoạt động hiệu quả phải nhận diện và phát triển cả nguồn lực hữu hình lẫn vô hình. Muốn mở rộng khả năng hành động phải biết tranh thủ bên ngoài mà vẫn giữ quyền chủ động bên trong.
Ảnh: Bốn phiếu hệ thống hóa nội dung thảo luận tương ứng bốn trục tư duy: CHỌN ĐÚNG – TẬP HỢP ĐÚNG – HUY ĐỘNG ĐÚNG – KẾT HỢP ĐÚNG. 
Điểm quan trọng là không biến bốn từ khóa thành bốn khẩu hiệu mới. Mỗi lựa chọn phải có căn cứ; mỗi liên hệ thực tiễn phải tôn trọng bối cảnh; mỗi phương án phải phù hợp thẩm quyền và điều kiện thực hiện. Đó cũng là lý do giảng viên phải giữ vai trò chuẩn hóa sau thảo luận: phân biệt điều có thể vận dụng về phương pháp với điều không thể sao chép từ một hoàn cảnh lịch sử sang một hoàn cảnh khác.
Đổi thước đo: từ “giảng viên đã dùng phương pháp gì” sang “học viên hình thành năng lực gì”
Trong nhiều năm, đổi mới phương pháp dễ được mô tả bằng hoạt động của người dạy: đã dùng tình huống, đã chia nhóm, đã ứng dụng công nghệ, đã tăng tương tác. Nhưng nếu chỉ đo bằng những gì giảng viên đã làm, chúng ta mới nhìn thấy một nửa quá trình.
Thước đo cần chuyển sang phía người học: sau giờ học, họ có xác định được vấn đề cốt lõi không; có biết lập luận từ căn cứ không; có nhìn thấy quan hệ giữa mục tiêu, lực lượng, nguồn lực và điều kiện không; có phân biệt được vận dụng sáng tạo với sao chép máy móc không; và có thể đề xuất một phương án gắn với công việc thực tế của mình hay không?
Đây cũng là ranh giới giữa một tiết học “sôi nổi” và một tiết học tạo ra giá trị. Sự tham gia chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra sản phẩm nhận thức, buộc người học phải giải thích, lựa chọn, phản biện và chịu trách nhiệm với lập luận của mình.
Ảnh: Giảng viên tổng hợp, chuẩn hóa kiến thức sau phần trình bày và phản biện của các nhóm. 
Để mỗi trang sử tiếp tục sống trong công việc hôm nay
Cách mạng Tháng Tám là một bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc. Giá trị của việc giảng dạy sự kiện ấy không thể chỉ đo bằng khả năng nhớ ngày tháng hay tái hiện diễn biến. Điều quan trọng hơn là giúp người học nhìn thấy trí tuệ lãnh đạo trong việc xác định đúng nhiệm vụ, tập hợp lực lượng, xây dựng thực lực, tranh thủ thời cơ và kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế.
Một giờ học thành công không làm cho lịch sử trở nên “dễ dãi” hơn. Ngược lại, khi người học phải dùng một bài học để lý giải một tình huống thực tiễn, họ sẽ nhận ra rằng chỉ một câu chữ không đủ; phải hiểu bối cảnh, giới hạn và điều kiện.
Từ bốn câu hỏi ở lớp A05, có thể rút ra một gợi mở cho đổi mới giảng dạy Lịch sử Đảng: mỗi bài học lịch sử nên được thiết kế như một “phòng thực hành tư duy”, nơi người học không chỉ tiếp nhận kết luận mà phải đi qua con đường hình thành kết luận ấy bằng dữ kiện, tranh luận và kiểm chứng.
Khi đó, Cách mạng Tháng Tám không còn chỉ ở năm 1945. Nó tiếp tục sống trong cách một cán bộ hôm nay biết chọn đúng việc cần ưu tiên, biết tập hợp con người, biết tạo dựng nguồn lực, biết hợp tác mà không phụ thuộc và biết chịu trách nhiệm với quyết định của mình.
Lịch sử chỉ thật sự bước ra khỏi trang sách khi nó thay đổi cách người học nhìn một vấn đề và cách họ hành động trước vấn đề đó.

Tác giả bài viết: ThS. Nguyễn Thị Thuý Hằng - Khoa Xây dựng Đảng

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây