Tóm tắt
Phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng viên vừa chịu sự giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát của tổ chức, vừa là chủ thể tự tu dưỡng, rèn luyện và nêu gương. Vấn đề then chốt là bảo đảm sự thống nhất giữa chuẩn mực chính trị, đạo đức với hành vi thực tế, nhất là trong thực thi công vụ và hoạt động trên môi trường số. Vì vậy, việc đánh giá cần vượt khỏi cam kết hình thức, dựa trên hành động, kết quả thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm giải trình và phản hồi có căn cứ của Nhân dân.
Từ khóa: đảng viên; nêu gương; đạo đức, lối sống; tự diễn biến; tự chuyển hóa.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ đòi hỏi sự hoàn thiện về tổ chức, cơ chế và phương thức lãnh đạo mà còn nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Chủ trương đúng đắn chỉ phát huy hiệu quả khi được cụ thể hóa bằng hành động có trách nhiệm, tuân thủ kỷ luật và hướng đến lợi ích chung. Ngược lại, nếu chuẩn mực chỉ dừng ở nhận thức, lời cam kết hoặc sinh hoạt hình thức thì hiệu quả xây dựng Đảng khó tạo chuyển biến thực chất.
Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII xác định việc ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị …. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá””. Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Đến năm 2026, Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 nhấn mạnh “xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đòi hỏi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực”; Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 cập nhật những điều đảng viên không được làm; và Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV tiếp tục đặt ra yêu cầu tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện tại Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 08/10/2026 và Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026.
Chỉ thị số 07-CT/TW chỉ rõ: “ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa chú trọng đúng mức việc thực hành, vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh; chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động”. Chỉ thị cũng chỉ rõ “trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chưa gắn với giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của Nhân dân; biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chậm được khắc phục. Công tác kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có lúc, có nơi chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt”. Đây không chỉ là sự nhận diện hạn chế trong tổ chức thực hiện mà còn đặt ra câu hỏi cốt lõi: làm thế nào để tinh thần tự giác và trách nhiệm nêu gương của đảng viên trở thành năng lực tự phòng ngừa, tự điều chỉnh và tự chịu trách nhiệm được thể hiện qua kết quả cụ thể?
Từ đó có thể thấy rằng, vai trò của đảng viên không đơn thuần ở phương diện tuyên truyền, vận động hoặc chấp hành quy định, mà ở mối liên hệ giữa ba phương diện: tự phòng ngừa từ bên trong; tiên phong, nêu gương bằng hành động; và chịu sự kiểm chứng bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ, sự giám sát của tổ chức đảng và Nhân dân.
2. Vai trò của đảng viên trong phòng, chống suy thoái - từ yêu cầu chính trị đến cơ chế tự điều chỉnh
Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất. Suy thoái về tư tưởng chính trị thể hiện ở sự phai nhạt lý tưởng, giảm sút niềm tin, thiếu kiên định hoặc lệch lạc trong nhận thức và hành động chính trị. Suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở động cơ, chuẩn mực ứng xử và cách thực thi quyền hạn, trách nhiệm bị lệch chuẩn. Trong khi đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là những biểu hiện biến đổi tiêu cực từ bên trong, có thể làm thay đổi lập trường, quan điểm, hành vi và mối quan hệ của cá nhân với tổ chức. Các hiện tượng này có thể tác động qua lại, song không nên quy mọi hạn chế trong thực thi công vụ hoặc mọi vi phạm kỷ luật thành biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khi chưa có căn cứ đánh giá phù hợp.
Nhận diện đúng sự khác biệt đó có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng. Nếu chỉ xem xét vi phạm ở biểu hiện cuối cùng, công tác phòng ngừa dễ dừng ở xử lý hậu quả; nếu chỉ tuyên truyền về chuẩn mực chung, việc giáo dục lại khó tác động trực tiếp đến động cơ và hành vi cụ thể. Vì vậy, phát huy vai trò đảng viên phải bắt đầu từ năng lực tự nhận diện nguy cơ, tự kiểm soát quyền lực và lợi ích cá nhân, tự điều chỉnh hành vi theo nguyên tắc của Đảng, pháp luật của Nhà nước và yêu cầu phục vụ Nhân dân.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu gương không phải là phần bổ sung mang tính hình thức cho lời nói mà là phương thức có sức thuyết phục trực tiếp. Người viết: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Giá trị của luận điểm nằm ở chỗ: uy tín chính trị và đạo đức không được tạo lập chủ yếu bằng việc tuyên bố về phẩm chất của bản thân, mà bằng sự thống nhất giữa điều nói, điều cam kết và điều thực hiện.
Từ góc độ đó, vai trò đảng viên cần được nhìn nhận trên ba bình diện. Thứ nhất, đảng viên là chủ thể tự giáo dục và tự phòng ngừa, chủ động nhận diện nguy cơ lệch chuẩn trước khi trở thành vi phạm. Thứ hai, đảng viên là chủ thể tạo ảnh hưởng bằng hành động, nhất là trong những tình huống có xung đột giữa lợi ích cá nhân với lợi ích chung, giữa thuận tiện trước mắt với nguyên tắc, kỷ luật. Thứ ba, đảng viên có trách nhiệm tham gia xây dựng môi trường tổ chức lành mạnh thông qua tự phê bình và phê bình, phản ánh trung thực, chấp hành kiểm tra, giám sát và bảo vệ những nguyên tắc đúng đắn trong sinh hoạt đảng.
Ba bình diện này bổ sung cho nhau. Tự giác mà thiếu kiểm chứng có thể dẫn đến tự đánh giá chủ quan; nêu gương mà thiếu cơ chế giám sát dễ trở thành hình ảnh mang tính trình diễn; kiểm tra mà không khuyến khích tự sửa chữa dễ thiên về phát hiện, xử lý sau khi vi phạm đã xảy ra. Chỉ khi nào có sự kết hợp đồng bộ tự tu dưỡng, nêu gương và giám sát mới hình thành cơ chế phòng ngừa chủ động, bền vững.
3. Những yêu cầu mới đặt ra đối với đảng viên trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường thông tin có nhiều biến động, yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng đặt ra đòi hỏi cao hơn đối với bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nêu gương của mỗi đảng viên. Nguy cơ suy thoái có thể nảy sinh trong nhận thức, thực thi quyền lực, giải quyết công việc, quan hệ tổ chức và ứng xử trên không gian số. Vì vậy, phòng, chống suy thoái và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không thể chỉ dựa vào nhận thức, cam kết hay sự tuân thủ hình thức, mà đòi hỏi đảng viên phải chuyển hóa các nguyên tắc chính trị, đạo đức thành hành vi có thể kiểm chứng trong thực tiễn; đồng thời kết hợp tự giác tu dưỡng với kỷ luật tổ chức, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm tra, giám sát. Những yêu cầu đó thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, kiên định chính trị phải gắn với năng lực nhận thức và ứng xử trước vấn đề mới. Trong môi trường thông tin biến động nhanh, đảng viên cần nắm vững nền tảng tư tưởng, đường lối, nguyên tắc của Đảng; phân biệt thông tin xác thực với tin giả, phản biện với xuyên tạc. Kiên định không đồng nghĩa với khép kín trước thực tiễn, mà đòi hỏi kiểm chứng nguồn tin, đối chiếu văn bản chính thống và không để cảm xúc nhất thời chi phối phát ngôn, hành động.
Thứ hai, chuẩn mực đạo đức phải thể hiện trong quyết định cụ thể, nhất là khi thực thi quyền lực hoặc tiếp cận nguồn lực công. Vụ lợi có thể bắt đầu từ ưu tiên người quen, bỏ qua quy trình, sử dụng tài sản công sai mục đích hoặc che giấu sai sót. Đảng viên cần công tâm, minh bạch, từ chối tác động không phù hợp và giải trình căn cứ quyết định. Quy định số 144-QĐ/TW xác lập năm điều chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới: Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm; Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời; Tổ chức thực hiện. Các chuẩn mực nà chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành vi thường nhật.
Thứ ba, nêu gương không thể chỉ được đánh giá qua phát biểu, bản đăng ký hoặc báo cáo thành tích. Chỉ thị số 07-CT/TW năm 2026 yêu cầu việc học tập và làm theo Bác phải được “thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực; gắn với chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ Nhân dân”; đồng thời chỉ ra tình trạng nêu gương “chưa gắn với giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của Nhân dân; biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chậm được khắc phục”. Vì vậy, cần kiểm chứng qua kết quả công việc, chất lượng phục vụ, sửa chữa sai sót và phản hồi có căn cứ. Sự hài lòng của người dân là chỉ báo quan trọng nhưng không thể thay thế các tiêu chí về chất lượng, tính hợp pháp và hiệu quả công việc.
Thứ tư, môi trường số tạo ra rủi ro chính trị và đạo đức mới như phát tán thông tin sai lệch, tiết lộ dữ liệu hoặc giả mạo nội dung. Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 quy định những hành vi đảng viên không được làm, trong đó có việc sử dụng Internet, mạng xã hội, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo để tạo lập, phát tán thông tin sai sự thật hoặc trái quy định. Quy định chỉ rõ: “Sử dụng hạ tầng Internet, mạng xã hội, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo để tạo lập, phát tán thông tin sai sự thật”. Vì vậy, đảng viên cần tuân thủ kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật và dữ liệu cá nhân, kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ; việc xác định vi phạm phải căn cứ vào nội dung, tính chất, hậu quả và quy định liên quan.
Thứ năm, đổi mới và dám chịu trách nhiệm phải đi đôi với nguyên tắc, thẩm quyền và quy trình. Tâm lý sợ sai có thể dẫn đến trì trệ; nhân danh đổi mới để bỏ qua thẩm quyền, quy trình cũng có thể gây hậu quả. Đảng viên cần đánh giá căn cứ và rủi ro, xin ý kiến đúng thẩm quyền, lưu lại quá trình thực hiện, báo cáo trung thực và không né tránh trách nhiệm. Cần phân biệt thử nghiệm có động cơ trong sáng, được cân nhắc và thực hiện đúng quy định với hành vi vụ lợi hoặc cố ý làm trái.
Thứ sáu, tự phê bình và phê bình phải có căn cứ, hướng đến khắc phục hạn chế. Tự phê bình không nên dừng ở việc nhận lỗi chung chung; phê bình không được biến thành công cụ công kích, quy chụp hoặc gây mất đoàn kết. Góp ý cần chỉ rõ sự việc, hành vi và biện pháp sửa chữa, đồng thời bảo đảm quyền giải trình. Sinh hoạt đảng phải khuyến khích nói thật, nhận trách nhiệm và sửa sai, không dung túng việc che giấu vi phạm hay lợi dụng phê bình để triệt hạ người khác.
Thứ bảy, trách nhiệm cá nhân gắn với chất lượng môi trường tổ chức và trách nhiệm của người đứng đầu. Liêm chính khó được duy trì nếu thiếu minh bạch hoặc gây bất lợi cho người phản ánh đúng. Người đứng đầu phải gương mẫu, tiếp nhận phản biện, công khai căn cứ quyết định và không dùng trách nhiệm tập thể để làm mờ trách nhiệm cá nhân. Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 đặt yêu cầu tiếp tục “xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng” và yêu cầu phát triển đất nước và “đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ”. Đồng thời, cần phân biệt hạn chế năng lực, sai sót nghiệp vụ, vi phạm kỷ luật và suy thoái; mọi kết luận phải có căn cứ, không suy diễn nhưng cũng không né tránh xử lý.
4. Giải pháp phát huy vai trò của đảng viên trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Phát huy thực chất vai trò tự giác, tiên phong, nêu gương của đảng viên đòi hỏi chuyển yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng thành trách nhiệm cụ thể, gắn việc tự tu dưỡng với kết quả thực hiện nhiệm vụ và sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng. Cần kết hợp nâng cao nhận thức với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phát huy nêu gương với hoàn thiện cơ chế đánh giá và xử lý vi phạm; đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa phòng ngừa, phát hiện, chấn chỉnh và xử lý, giữa trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu. Trên cơ sở đó, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp cơ bản sau:
Một là, đổi mới giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức gắn với thực tiễn. Nội dung giáo dục cần tập trung vào những tình huống dễ phát sinh vi phạm như xung đột lợi ích, tiếp nhận quà tặng, quản lý tài sản công, giải quyết công việc và ứng xử trên không gian mạng. Kết quả học tập phải được cụ thể hóa thành hành động, thời hạn thực hiện và tiêu chí kiểm chứng, khắc phục tình trạng hình thức, nặng về nhận thức mà thiếu chuyển biến trong hành vi.
Hai là, xây dựng cơ chế tự soi, tự sửa và cụ thể hóa trách nhiệm nêu gương. Mỗi đảng viên cần chủ động nhận diện nguy cơ gắn với vị trí công tác, xây dựng kế hoạch rèn luyện có mục tiêu, thời hạn và biện pháp khắc phục cụ thể. Trách nhiệm nêu gương phải được thể hiện bằng hành vi và kết quả phù hợp với chức trách; đề cao tính công tâm, liêm chính, tinh thần dám chịu trách nhiệm, chấp hành quy trình và phục vụ Nhân dân. Việc tự sửa chữa không thay thế trách nhiệm giải trình hoặc quy trình xem xét vi phạm.
Ba là, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tự phê bình và phê bình. Nội dung sinh hoạt cần bám sát nhiệm vụ chính trị, những hạn chế và nguy cơ vi phạm thực tế; bảo đảm góp ý thẳng thắn, có căn cứ, đúng nguyên tắc, tránh né tránh hoặc quy kết chủ quan. Cấp ủy, bí thư chi bộ phải theo dõi việc khắc phục sau kiểm điểm, xem xét dấu hiệu vi phạm theo đúng thẩm quyền, đồng thời bảo vệ người phản ánh trung thực, có căn cứ.
Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trên cơ sở nguy cơ, bằng chứng. Cần kết hợp giám sát thường xuyên với kiểm tra chuyên đề ở những lĩnh vực dễ phát sinh lạm quyền, thiếu minh bạch và xung đột lợi ích; đối chiếu hồ sơ, quá trình ra quyết định, kết quả thực hiện và phản ánh đã được xác minh, không chỉ dựa vào báo cáo tự đánh giá. Việc xem xét trách nhiệm phải khách quan, kịp thời, đúng thẩm quyền, bảo đảm quyền giải trình và phân định rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể; thực hiện nghiêm Quy định số 207-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm.
Năm là, xây dựng văn hóa liêm chính, trách nhiệm giải trình và phát huy giám sát của Nhân dân. Cơ quan, đơn vị cần công khai thẩm quyền, quy trình, tiêu chí đánh giá, việc phân bổ nguồn lực và cách thức xử lý phản ánh; thiết lập kênh góp ý thuận tiện, an toàn, bảo đảm phản ánh được tiếp nhận, xác minh và phản hồi đúng thời hạn. Ý kiến của Nhân dân phải được xem xét nghiêm túc nhưng cần kiểm chứng trước khi sử dụng làm căn cứ kết luận. Người đứng đầu phải gương mẫu, không dung túng sai phạm, không né tránh trách nhiệm hoặc lấy thành tích tập thể che lấp khuyết điểm cá nhân.
Sáu là, đổi mới đánh giá đảng viên, nâng cao kỷ luật số và khuyến khích đổi mới sáng tạo có trách nhiệm. Đánh giá cần kết hợp kết quả nhiệm vụ, chất lượng công việc, mức độ khắc phục hạn chế, nhận xét của tổ chức đảng và phản hồi có căn cứ của Nhân dân; tiêu chí phải minh bạch, dữ liệu đáng tin cậy, có cơ chế giải trình và không lệ thuộc vào chỉ số đơn lẻ. Trên môi trường số, đảng viên phải kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu công vụ, tuân thủ quy định về phát ngôn và kiểm tra độ chính xác của nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra. Đồng thời, cần phân biệt hành vi vụ lợi, cố ý vi phạm, thiếu trách nhiệm với hoạt động đổi mới có động cơ trong sáng, đúng thẩm quyền và quy trình; thiết lập cơ chế đánh giá rủi ro, kiểm soát và xử lý phù hợp, không được tạo vùng miễn trừ trách nhiệm.
Kết luận
Phát huy vai trò tự giác, tiên phong, nêu gương của đảng viên là yêu cầu nền tảng trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vai trò ấy không thể chỉ được đo bằng nhận thức, lời nói hay cam kết, mà phải thể hiện ở khả năng chủ động phòng ngừa, lựa chọn cách ứng xử đúng đắn trước những tình huống khó, thực hiện nhiệm vụ có trách nhiệm và chấp nhận sự kiểm chứng của tổ chức đảng, cơ quan, đồng chí và Nhân dân.
Trong bối cảnh mới, các yêu cầu về thực hành tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng; kỷ luật phát ngôn và ứng xử trên không gian mạng; tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; cùng cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật phải được triển khai trong một chỉnh thể thống nhất. Trọng tâm là chuyển chuẩn mực thành hành vi có thể nhận diện, cam kết thành kết quả có thể kiểm chứng, tự phê bình thành hành động sửa chữa và nêu gương thành chất lượng phục vụ Nhân dân. Khi mỗi đảng viên thực sự tự giác, tiên phong bằng hành động và tổ chức đảng bảo đảm cơ chế giám sát công tâm, minh bạch và xử lý nghiêm minh, công tác phòng, chống suy thoái mới có thể chuyển từ phản ứng sau vi phạm sang phòng ngừa chủ động, bền vững, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016), Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
2. Bộ Chính trị (2024), Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
3. Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về những điều đảng viên không được làm.
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021), Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái và có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 08/10/2026, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
8. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 284.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021), Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tr.3
Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, tr.1
Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, tr.1
Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, tr.1
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1, tr.284
Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, tr.1
Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, tr.1
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, Điều 5, tr.2
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, tr.2
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, tr.3