KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI DƯ LUẬN LỆCH CHUẨN DUNG TÚNG CHO TỘI PHẠM

Thứ tư - 28/10/2026 22:00 19 0
Quyền sống là quyền cơ bản của con người, được đề cao trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, trước toàn thể đồng bào và thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Có thể thấy, Tư tưởng của Bác luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, khẳng định quyền sống là quyền tự nhiên, vốn có của mỗi người, không ai được quyền xâm phạm. Từ nền tảng tư tưởng đó, quyền sống đã được Nhà nước ta cụ thể hóa và bảo đảm bằng những quy định pháp lý có giá trị cao nhất. Tại Điều 19 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Điều luật này đặt nền tảng cho việc bảo vệ quyền sống và chống lại mọi hành vi xâm phạm tính mạng con người trái pháp luật.
Thời gian qua, liên tiếp xảy ra nhiều vụ án giết người có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, manh động, tước đoạt cùng lúc nhiều mạng người trong cùng một gia đình; các vụ việc đã được lực lượng Công an phát hiện, điều tra, bắt giữ, khởi tố, đề nghị truy tố và đưa ra xét xử theo quy định pháp luật, song hậu quả để lại là vô cùng lớn, không chỉ gây mất mát không gì bù đắp được cho gia đình nạn nhân mà còn gây hoang mang trong Nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự và đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường phòng ngừa bạo lực, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ con người và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Cụ thể, tháng 10/2025, tại xã Đắk Nhau, tỉnh Đồng Nai, Lê Sỹ Tùng dùng súng sát hại ba người trong một gia đình để cướp tài sản; đối tượng bị bắt sau hơn hai ngày và Cơ quan điều tra đã hoàn tất kết luận, đề nghị truy tố (Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an). Tháng 3/2026, tại xã Đông Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên, Ngô Duy Thăng dùng súng và dao sát hại hai người, sau đó được phát hiện tử vong trong ô tô khi lực lượng chức năng đang truy bắt (Báo Nhân Dân). Tháng 6/2026, tại phường Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh, một vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm làm bốn người tử vong và một người bị thương; Công an tỉnh Bắc Ninh đã khẩn trương khám nghiệm, điều tra làm rõ vụ việc (Báo Nhân Dân). Đến tháng 9/2026, tại xã Bình Minh, thành phố Đồng Nai, Nguyễn Đức Anh dùng dao tấn công một gia đình, làm ba người tử vong và một người bị thương nặng; vụ án được khởi tố ngay sau đó và ngày 06/10/2026, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai tuyên phạt bị cáo mức án tử hình về tội giết người (Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an; Báo Nhân Dân). Những vụ án này là hồi chuông cảnh báo mạnh mẽ về hậu quả của hành vi coi thường tính mạng con người, yêu cầu phải xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng quy định pháp luật đối với tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người.
Đáng lo ngại hơn, ngay sau khi vụ án Nguyễn Đức Anh được đưa ra xét xử, trên mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết, hình ảnh, video ngắn tại phiên toà cùng nhiều bình luận bày tỏ lòng thương cảm cho bị cáo, cho rằng hành vi phạm tội chỉ là sự “bồng bột” của tuổi trẻ, do thiếu thốn tình thương của gia đình, thậm chí kêu gọi Tòa án giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội trở về với gia đình, hay kêu gọi quyên góp bồi thường cho gia đình nạn nhân để mong gia đình nạn nhân xin toà án giảm hình phạt cho bị cáo,…
 
   
 
Hiện tượng này phản ánh một xu hướng nhận thức lệch chuẩn đáng báo động, một bộ phận người tiếp nhận thông tin đã để sự thương cảm cảm tính lấn át lý trí và phán đoán khách quan, từ đó xem nhẹ hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của tội ác cũng như nỗi đau không thể bù đắp của gia đình nạn nhân. Không thể nhân danh lòng thương cảm để làm lu mờ sự thật, hạ thấp tính nghiêm minh của pháp luật hay lãng quên quyền được sống của các nạn nhân, trong khi những nạn nhân ấy còn có trẻ em. Mọi biểu hiện tô hồng, biện minh hay dung túng cho hành vi tước đoạt tính mạng người khác đều phải bị lên án và kiên quyết bác bỏ. Mặt khác, nếu không được nhận diện, định hướng và ngăn chặn kịp thời, những nhận thức lệch chuẩn này có thể lan truyền trên mạng xã hội, tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức và cách ứng xử của một bộ phận giới trẻ, khiến các em dễ nhầm lẫn giữa lòng nhân đạo với sự dung túng cho hành vi phạm tội. Vì vậy, cần kiên quyết đấu tranh với những quan điểm lệch chuẩn, bảo vệ công lý, đề cao trách nhiệm pháp lý và khẳng định rằng không có bất kỳ lý do nào có thể bao che, dung túng cho tội ác.
 
   
 
Chúng ta cần phân biệt giữa cảm thông với con người và biện minh cho hành vi phạm tội. Lòng nhân đạo chỉ có ý nghĩa khi không làm lu mờ sự thật vụ án, quyền được sống của nạn nhân và trách nhiệm pháp lý của người phạm tội. Pháp luật hình sự Việt Nam luôn thể hiện chính sách nhân đạo, tuy nhiên sự khoan hồng phải dựa trên căn cứ pháp luật và những tình tiết đã được chứng minh. Theo Điều 50 Bộ luật Hình sự, việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào quy định của pháp luật, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khoản 1 Điều 123 quy định khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình đối với các trường hợp được liệt kê, trong đó có hành vi giết từ hai người trở lên hoặc giết người dưới 16 tuổi. Các quy định này cho thấy việc lượng hình là một hoạt động pháp lý chặt chẽ; khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xem xét đầy đủ nhân thân, hoàn cảnh, động cơ phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật định. Mọi ý kiến về giảm nhẹ hình phạt hay khoan hồng phải được xem xét trong khuôn khổ pháp luật, trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả của vụ án, không thể được thay thế bằng sự thương cảm trên mạng xã hội.
Từ vụ việc trên, để không bị dẫn dắt bởi những dư luận lệch chuẩn dung túng cho tội phạm, góp phần xây dựng môi trường mạng lành mạnh, ngoài việc nâng cao nhận thức về pháp luật thì mỗi cá nhân cần phải:
Một là, khi đánh giá, bình luận về một vụ án hoặc một hiện tượng xã hội phải dựa trên nhiều khía cạnh, không chỉ nhìn vào một biểu hiện bên ngoài hoặc một thông tin riêng lẻ. Cần xem xét đầy đủ bối cảnh sự việc, hậu quả xảy ra, quyền và lợi ích của nạn nhân và người có liên quan, trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, cũng như căn cứ pháp luật có liên quan.
Hai là, cần rèn luyện năng lực tiếp nhận thông tin có chọn lọc và hình thành thói quen kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ hoặc đưa ra nhận xét. Việc bình luận phải dựa trên nguồn tin chính xác, lập luận khách quan và thái độ tôn trọng sự thật. Không nên để cảm xúc nhất thời, thông tin một chiều hoặc số đông trên mạng xã hội chi phối nhận thức của bản thân. Khi bày tỏ quan điểm, cần tránh suy đoán, quy kết hoặc đưa ra nhận định vượt quá thông tin đã được xác thực.
Ba là, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi phát ngôn, bình luận và chia sẻ thông tin trên mạng xã hội, nhất là đối với những vụ án nghiêm trọng, gây sự chú ý của dư luận. Cần thể hiện thái độ khách quan, tôn trọng pháp luật, không cổ súy, biện minh cho hành vi phạm tội hoặc lan truyền những quan điểm lệch chuẩn. Đồng thời, cần có ý thức bảo vệ danh dự, nhân phẩm của những người có liên quan, tôn trọng nỗi đau của gia đình nạn nhân, góp phần xây dựng môi trường mạng văn minh, lành mạnh.

Tác giả bài viết: Thuý Hằng - Lớp Trung cấp Lý luận chính trị khoá 01 (A01)

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây