TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TRÍ THỨC VÀ VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Thứ hai - 06/04/2026 23:23 56 0
 
Tóm tắt
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức được hình thành từ truyền thống trọng dụng hiền tài của dân tộc, kết hợp với tinh hoa nhân loại và chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh luôn coi trí thức là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Trong thời kỳ đổi mới, quan điểm này tiếp tục được Đảng phát triển, khẳng định vai trò quyết định của đội ngũ trí thức đối với phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn nhiều vấn đề hạn chế về cơ chế và môi trường phát huy trí tuệ, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và vận dụng phù hợp trong chiến lược phát triển trí thức hiện nay.
Từ khóa: Hồ Chí Minh; trí thức; phát triển nguồn nhân lực
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, trí thức luôn giữ vai trò đặc biệt. Nếu tài nguyên thiên nhiên tạo ra lợi thế ban đầu thì tri thức và con người mới là yếu tố quyết định sự phát triển lâu dài. Đối với Việt Nam, nhận thức này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm. Người không chỉ dừng ở việc đánh giá cao vai trò của trí thức, mà còn xây dựng một hệ thống quan điểm tương đối toàn diện về việc thu hút, sử dụng và phát huy đội ngũ này trong cách mạng. Những tư tưởng đó đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước sau này.
Trong bối cảnh hiện nay, khi khoa học – công nghệ trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, vai trò của trí thức càng trở nên nổi bật. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, từ đó vận dụng phù hợp vào thực tiễn phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức và vai trò của trí thức trong cách mạng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức được hình thành trên nền tảng kế thừa truyền thống “trọng hiền đãi sĩ” của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa tư tưởng nhân loại và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong hệ thống tư tưởng của Người, trí thức luôn được xác định là một lực lượng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng.
Ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của lý luận và tri thức trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong tác phẩm Đường Cách mệnh Nguyễn Ái Quốc dẫn chứng luận điểm nổi tiếng của Lênin: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”[1, tr.279]. Quan điểm này cho thấy Người nhận thức sâu sắc rằng tri thức và lý luận là nền tảng để dẫn dắt phong trào cách mạng.
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, vấn đề tập hợp trí thức đã được đặt ra như một yêu cầu mang tính chiến lược. Trong Sách lược vắn tắt, Nguyễn Ái Quốc xác định Đảng cần Đảng phải “hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông (...) để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”, [2, tr.4]. Điều đó thể hiện rõ quan điểm coi trí thức là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước bước vào giai đoạn vô cùng khó khăn với hàng loạt thách thức về kinh tế, chính trị và xã hội. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đội ngũ nhân tài đối với sự nghiệp xây dựng quốc gia. Một minh chứng tiêu biểu là ngày 20/11/1946, Người đã đăng bài viết “Tìm người tài đức” trên Báo Cứu quốc, thể hiện rõ quan điểm trọng dụng nhân tài. Trong bài viết, Người khẳng định: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân” [3, tr. 622]. Từ lời kêu gọi đó, nhiều trí thức, nhân sĩ đã trở về phục vụ Tổ quốc, sẵn sàng cống hiến tri thức và tâm huyết cho đất nước trong hoàn cảnh còn nhiều gian khó, tiêu biểu như Trần Đại Nghĩa, Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước, Phan Anh, Nguyễn Văn Huyên, Bùi Bằng Đoàn… Điều này cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của tư tưởng trọng dụng nhân tài mà Hồ Chí Minh đề xướng.
Như vậy, có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trí thức không chỉ là lực lượng có tri thức, mà còn là một bộ phận cấu thành quan trọng của lực lượng cách mạng, giữ vai trò dẫn dắt và thúc đẩy tiến trình phát triển xã hội
2.2. Tư tưởng trọng dụng trí thức và yêu cầu đối với đội ngũ trí thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thu hút, sử dụng và phát huy đội ngũ trí thức trong thực tiễn cách mạng. Một điểm nổi bật trong tư tưởng của Người là cách tiếp cận cởi mở, không định kiến trong việc trọng dụng nhân tài.
Trong quá trình xây dựng chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã chủ động mời nhiều trí thức, nhân sĩ, kể cả những người từng làm việc trong bộ máy cũ, tham gia vào bộ máy nhà nước. Điều này thể hiện rõ quan điểm sử dụng con người dựa trên năng lực và sự cống hiến, thay vì xuất thân hay quá khứ. Đây là một tư duy tiến bộ, mang tính thực tiễn cao. Đồng thời, Người luôn khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế” [4, tr. 184]. Quan điểm này cho thấy trí thức không chỉ có giá trị trước mắt mà còn là nguồn lực lâu dài, quyết định sức mạnh và tiềm lực phát triển của quốc gia. Bên cạnh việc trọng dụng, Hồ Chí Minh cũng đặt ra những yêu cầu rõ ràng đối với đội ngũ trí thức. Trước hết, trí thức phải gắn lý luận với thực tiễn, không ngừng học hỏi từ đời sống và vận dụng tri thức vào phục vụ nhân dân. Người nhấn mạnh: “Một người trí thức hoàn toàn thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” [5, tr. 275]. Không chỉ vậy, trí thức còn phải có trách nhiệm xã hội, tinh thần dấn thân và ý thức nêu gương. Hồ Chí Minh yêu cầu trí thức phải đi đầu trong việc tuyên truyền, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời đóng vai trò như những “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng và văn hóa.
Quan điểm này cũng được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển. Các văn kiện Đảng nhấn mạnh rằng đội ngũ trí thức là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng, có vai trò then chốt trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển khoa học – công nghệ.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trọng dụng trí thức luôn gắn liền với yêu cầu về trách nhiệm, đạo đức và sự gắn bó với nhân dân. Trí thức không chỉ là người có tri thức, mà còn là lực lượng có vai trò dẫn dắt xã hội phát triển theo định hướng tiến bộ.
2.3. Phát huy vai trò trí thức trong thời kỳ đổi mới
Từ năm 1986 đến nay, nhận thức của Đảng về vai trò của trí thức ngày càng hoàn thiện và sâu sắc. Trí thức không chỉ là một bộ phận xã hội mà còn là lực lượng then chốt trong phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng đã khẳng định trí thức là lực lượng lao động xã hội chủ nghĩa và nhấn mạnh quyền tự do sáng tạo. Quan điểm này tiếp tục được phát triển trong Cương lĩnh 1991 và cụ thể hóa trong Nghị quyết 27-NQ/TW (2008), xác định trí thức là lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng, giữ vai trò trực tiếp trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội XIII của Đảng (2021), đặc biệt là Nghị quyết số 45-NQ/TW năm 2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong giai đoạn mới, đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận. Theo đó, trí thức được khẳng định là “nguyên khí quốc gia”, giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao trí tuệ và sức mạnh tổng hợp của dân tộc [6]. Vai trò của đội ngũ trí thức không chỉ được đề cao về mặt vị thế, mà còn được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với các trụ cột chiến lược như khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vốn được xác định là động lực trung tâm của phát triển nhanh và bền vững. Trên cơ sở đó, Đảng nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải có cơ chế “Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài….” [7, tr. 167] nhằm tạo dựng nguồn lực trí tuệ chất lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đại hội XIV, tư duy về phát triển trí thức tiếp tục được mở rộng, gắn với bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số. Trí thức không chỉ là lực lượng nghiên cứu mà còn là chủ thể sáng tạo tri thức, dẫn dắt đổi mới công nghệ và mô hình phát triển. Văn kiện đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “ưu tiên phát triển… làm chủ công nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi như: chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo…”; đồng thời chú trọng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. [8]
Thực tiễn cho thấy đội ngũ trí thức Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ, giáo dục và quản lý. Tuy nhiên, việc phát huy tiềm năng trí tuệ vẫn còn hạn chế do cơ chế chính sách chưa đột phá, môi trường sáng tạo còn ràng buộc và việc sử dụng nhân tài chưa tương xứng.
Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và xây dựng môi trường thuận lợi để phát huy vai trò trí thức, coi đây là yêu cầu vừa cấp thiết vừa mang tính chiến lược đối với phát triển bền vững.
Để trí thức thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, cần triển khai đồng bộ các giải pháp: nâng cao nhận thức xã hội về vai trò trí thức; hoàn thiện cơ chế khuyến khích sáng tạo, bảo đảm tự do học thuật và đánh giá theo hiệu quả; đổi mới giáo dục gắn với nhu cầu thực tiễn và phát hiện, bồi dưỡng nhân tài; tăng cường thu hút, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế và kết nối trí thức trong và ngoài nước.
Những giải pháp này có tính liên kết chặt chẽ, hướng tới xây dựng đội ngũ trí thức có trình độ cao, năng lực sáng tạo mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời đại kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.
3. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức là một hệ thống quan điểm sâu sắc, thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của con người trong sự phát triển của dân tộc. Người không chỉ đề cao trí thức mà còn chỉ ra cách thức sử dụng, phát huy và phát triển đội ngũ này một cách hiệu quả.
Trong bối cảnh hiện nay, khi tri thức trở thành yếu tố quyết định của cạnh tranh quốc gia, những quan điểm đó càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Việc vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững. Có thể khẳng định rằng, xây dựng và phát huy đội ngũ trí thức không chỉ là một nhiệm vụ trước mắt, mà là một chiến lược lâu dài gắn liền với tương lai của đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr.279.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.2, tr.4.
[3]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. CTQG Sự thật, Hà Nội, T.15, tr. 622.
[4]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 5, tr. 184.
[5]. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 5, tr. 275.
[6]. Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 45/NQ-TW ngày 24-11-2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, H, 2021, tr. 167
[8].  Xem “Toàn văn: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng truy cập ngày 30/03/2026, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm

Tác giả bài viết: ThS. Đỗ Thanh Lâm - Phòng Quản lý đào tạo và Nghiên cứu khoa học

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây