Xuất bản thông tin

null Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị và ý nghĩa đối với Cách mạng tháng Tám và lịch sử Việt Nam

Chi tiết bài viết Chi tiết bài viết

Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị và ý nghĩa đối với Cách mạng tháng Tám và lịch sử Việt Nam

Nguyễn Hoài Vinh, Khoa NN&PL

ThS. Bùi Tuấn Đạt, Phòng QLĐT&NCKH

        Cách mạng tháng Tám thành công dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Có một sự kiện trong cao trào Cách mạng tháng Tám mang ý nghĩa lịch sử, đó là sự kiện vua Bảo Đại thoái vị vào ngày 30/8/1945 ở kinh thành Huế.

        Vua Bảo Đại tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh ngày 22/10/1913, là người con duy nhất của vua Khải Định và Đoan Huy Hoàng Thái hậu. Năm 1922, Vĩnh Thụy được tấn phong làm Hoàng Thái tử và được gửi sang nước Pháp du học. Ngày 08/01/1926, sau khi vua Khải Định qua đời, Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị lấy niên hiệu Bảo Đại - trở thành vị hoàng đế thứ 13 của nhà Nguyễn trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sau đó, vua Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục việc học tập. Năm 1933, nhà vua chính thức “hồi loan” về nước chấp chính. Tuy nhiên, quyền bính hoàn toàn nằm trong tay người Pháp, vua quan triều Nguyễn chỉ là bù nhìn và được thực dân Pháp trả lương như những viên chức thuộc địa. Bảo Đại bắt đầu lao vào các cuộc giải trí trụy lạc như săn bắn cùng với các người đẹp ở núi rừng Quảng Trị, Tây Nguyên hoặc lang thang ở các sòng bạc tận Macau hay Monaco. Ông trở thành một tay chơi có tiếng không kém những ông hoàng Ả Rập hoặc hoàng gia châu Âu.

        Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 09/3/1945, chính quyền Bảo Đại đã cộng tác với quân phiệt Nhật đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Ngày 15/8/1945, giữa cao trào của Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh – chiến tranh thế giới thứ II kết . Theo chỉ thị của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế bắt đầu phát động khởi nghĩa giành chính quyền trên địa bàn và nhiệm vụ vận động vua Bảo Đại thoái vị được giao cho Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe đảm trách.

        Ngày 17/8, Bảo Đại ban hành dụ số 105 chấp nhận bàn giao chính quyền cho Việt Minh, song vẫn hy vọng có thể giữ được ngôi báu bằng cách mời các các lãnh tụ Việt Minh về Huế thiết lập nội các mới. Chiều ngày 22/8/1945, Bảo Đại nhận được một bức điện tín từ Ủy ban Dân tộc Giải phóng với nội dung: “Trước ý chí đồng nhứt của toàn thể dân chúng Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu vãn nền dộc lập quốc gia, chúng tôi thành kính xin đức Hoàng đế hãy làm một cử chỉ lịch sử để từ bỏ ngai vàng”. Trước cao trào cách mạng và nguyện vọng của nhân dân, Bảo Đại đã quyết định một việc sáng suốt nhất trong cuộc đời ông chính là đồng ý thoái vị, sẵn sàng hy sinh mọi quyền lợi vì sự nghệp chung và yêu cầu người của Ủy ban Dân tộc giải phóng sớm đến Huế để nhận bàn giao. Ngày 25-8-1945, phái đoàn Uỷ ban dân tộc giải phóng gồm ông Trần Huy Liệu, ông Nguyễn Lương Bằng và ông Cù Huy Cận lên đường vào Huế tiếp nhận việc thoái vị của Bảo Đại. Cùng ngày, tại Hội nghị tư vấn ở điện Kiến Trung, Bảo Đại cho thảo luận về bản Tuyên cáo thoái vị mà ông Phạm Khắc Hoè đã dự thảo từ trước. Bản Tuyên cáo viết, lúc này “đoàn kết là sống, chia rẽ là chết, tất cả các giai cấp, các đảng phái cho đến cả người Hoàng phái cũng vậy, đều nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để Chính phủ Dân chủ Cộng hoà giữ vững nền độc lập của nước nhà”. Đối với cá nhân vua Bảo Đại, “sau hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc đã biết bao ngậm đắng nuốt cay, từ nay… lấy làm vui được làm dân tự do của một nước độc lập”. Đồng thời, vua Bảo Đại đề nghị với phái đoàn ba nguyện vọng: một là xin Chính phủ cách mạng không phân biệt đối xử với mọi người trong Hoàng gia và quan lại trong triều, hai là xin Chính phủ tạo điều kiện cho cách quan lại trong triều được tham gia vào những công việc của đất nước tùy khả năng và hoàn cảnh của từng người, ba là xin Chính phủ đối xử với lăng tẩm, đền miếu của triều Nguyễn cho có sự thể.

        Chiều ngày 30-8-1945, lễ thoái vị của Bảo Đại được chính thức tổ chức ở Ngọ Môn trước sự có mặt của hàng vạn đồng bào Huế. Đi cùng nhà vua có Đổng lý ngự tiền Phạm Khắc Hòe và Hoàng thân Vĩnh Cẩn. Bảo Đại mặc đại triều phục, đọc lời tuyên bố thoái vị. Lá cờ quẻ ly của triều đình Huế trên Kỳ đài được hạ xuống, lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam mới được kéo lên giữa những tràng vỗ tay và tiếng hoan hô như sấm, đan xen bởi những phát súng nổ vang trời chào Quốc kỳ mới của Tổ quốc hồi sinh. Bảo Đại làm lễ trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ lâm thời, chính thức trở thành một công dân bình thường của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các ông Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận thay mặt Chính phủ lâm thời chấp nhận sự thoái vị của Bảo Đại và tiếp nhận Quốc ấn bằng vàng và thanh gươm trong vỏ nạm ngọc do Bảo Đại chuyển giao cho Chính phủ.

        Ông Trần Huy Liệu sau đó đọc diễn văn, nêu rõ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của quá trình đấu tranh anh dũng, kiên cường của nhân dân Việt Nam; tuyên bố xoá bỏ chính thể quân chủ ở Huế cũng như trên toàn lãnh thổ Việt Nam; nhấn mạnh chính sách của chính thể dân chủ cộng hoà là đoàn kết mọi tầng lớp quốc dân để giữ nước và dựng nước. Hàng vạn quần chúng đồng thanh hô vang một góc trời: “Việt Nam độc lập muôn năm !”, “Việt Nam dân chủ cộng hoà muôn năm !”. Ông Nguyễn Lương Bằng thay mặt đoàn đại biểu Chính phủ tặng Vĩnh Thuỵ huy hiệu Cờ đỏ sao vàng. Đồng bào dự mittinh hoan nghênh người công dân Vĩnh Thuỵ.

        Có thể khẳng định rằng, sự kiện vua Bảo Đại thoái vị mang ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, nó đã đặt dấu chấm hết cho chế độ phong kiến tồn tại hơn 10 thế kỷ, đồng thời cũng gián tiếp công nhận tính hợp pháp của chính quyền dân chủ nhân dân. Với việc tuyên bố tự nguyện thoái vị, Bảo Đại buộc phải nhận ra và thuận theo sức mạnh không thể chống lại của nhân dân trong cuộc cách mạng mang ý chí của toàn dân tộc. Đồng thời, đã triệt tiêu một đầu mối mà các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị lên đất nước ta.

        Sự thoái vị của Bảo Đại cũng đã góp phần làm nên giá trị nhân văn sâu sắc của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám bởi sự yên bình hiếm có khi quyền lực chính quyền chuyển về tay nhân dân. Có nước khi cách mạng thành công đã hành quyết hoàng gia (Cách mạng tư sản Pháp 1789 và Cách mạng tháng 10 Nga 1917), có nước đồng bào chia đảng phái, chém giết nhau liên tiếp trong nhiều năm. Nhưng, nước Việt Nam vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối để mưu cầu nước nhà được độc lập. Sự kiện Bảo Đại thoái vị đã đặt dấu mốc hoàn thành mục tiêu cuộcđấu tranh gian khổ suốt 87 năm (1858-1945) của dân tộc: phản đế quốc, bài phong kiến, diệt phát xít.

        Tựu trung lại, sự kiện vua Bảo Đại - vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Nguyễn - thoái vị là một cột mốc lớn trong lịch sử Việt Nam. Đây là sự kiện chính thức khép lại chế độ xã hội phong kiến, mở ra nền dân chủ nhân dân ở nước ta.

        Sau khi thoái vị trở thành công dân một nước độc lập, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối xử rất tốt. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ lâm thời, trở thành thành viên của Ủy ban soạn thảo Hiến pháp. Tháng 01/1946, Vĩnh Thụy được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên. Không lâu sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Vĩnh Thụy thay mặt Chính phủ đi một chuyến qua Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ để giới thiệu chế độ mới, vận động họ công nhận nước Việt Nam độc lập. Dù được Hồ Chủ tịch rất tin tưởng, song Vĩnh Thụy vốn là người nhu nhược, không vượt qua được sự túng thiếu về tài chính và các cạm bẫy của mật thám Pháp nên ông đã bị Pháp mua chuộc, trở lại làm bù nhìn cho thực dân Pháp và bị Ngô Đình Diệm phế truất vào năm 1954, phải sống cuộc đời lưu vong ở nước ngoài đến khi qua đời vào năm 1997./.

Tài liệu tham khảo

1. Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb Chính trị quốc Gia.

2. Phạm Khắc Hòe, hồi ký Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, bản điện tử.

Có thể bạn quan tâm