NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ

Thứ hai - 09/02/2026 02:40 55 0
NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ
I. MỞ ĐẦU
Ngày 07/01/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng về vai trò và vị thế của văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn đặt văn hóa – đặc biệt là ngành công nghiệp văn hóa – vào vị trí động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.
Nghị quyết đã có những đánh giá đúng đắn, thẳng thắn khi chỉ rõ công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí của nước ta “chưa tương xứng với tiềm năng”[1], đồng thời xác lập định hướng chiến lược coi văn hóa không phải là lĩnh vực đi sau hay chỉ phục vụ đời sống tinh thần, mà là nguồn lực kinh tế quan trọng, là sức mạnh mềm của quốc gia. Với tầm nhìn đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã khẳng định quyền lực mềm văn hóa, xác định phát triển công nghiệp văn hóa là mũi nhọn để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hội nhập quốc tế sâu rộng, quảng bá hình ảnh, thương hiệu Việt Nam và bảo vệ vững chắc chủ quyền văn hóa trong không gian số, qua đó khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của ngành công nghiệp văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước hiện nay.
II. NỘI DUNG
1. Xu hướng phát triển ngành công nghiệp văn hoá
Kể từ đầu thế kỷ XXI, cùng với sự bùng nổ của kinh tế tri thức, khoa học – công nghệ và toàn cầu hoá, các ngành công nghiệp văn hoá ngày càng được khẳng định là một trong những trụ cột quan trọng và trở thành một trong những mô hình phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Về bản chất, công nghiệp văn hoá có phạm vi bao quát rộng, liên quan đến nhiều ngành, nghề và lĩnh vực khác nhau. Điểm đặc trưng nổi bật của ngành này là sự kết hợp chặt chẽ giữa sáng tạo văn hoá với ứng dụng khoa học – công nghệ cao, tạo nên các sản phẩm mang hàm lượng trí tuệ lớn, vừa chứa đựng giá trị văn hoá sâu sắc, vừa có giá trị kinh tế cao, khả năng lan tỏa mạnh mẽ và vượt qua mọi giới hạn về không gian, thời gian.
Thực tiễn phát triển trên thế giới cho thấy, công nghiệp văn hoá từ lâu đã vượt ra khỏi vai trò là lĩnh vực bổ trợ cho đời sống tinh thần, để trở thành một ngành kinh tế quan trọng và là trụ cột của sức mạnh mềm quốc gia. Nhiều quốc gia đã chủ động xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp văn hoá gắn với nâng cao vị thế và ảnh hưởng quốc tế. “Hàn Quốc với chiến lược quốc gia về văn hoá từ thập niên 1990 đã tạo nên làn sóng Hallyu lan toả toàn cầu, đưa xuất khẩu nội dung văn hoá năm 2024 đạt hơn 14 tỷ USD. Tại Vương quốc Anh, công nghiệp sáng tạo đóng góp khoảng 5,2% GDP. Trong khi đó, “Pháp đưa công nghiệp văn hóa và sáng tạo vào trục đối ngoại, coi đây là nguồn lực ảnh hưởng quốc tế; lĩnh vực này tạo gần 92 tỉ euro doanh thu và chiếm khoảng 2,3% GDP.[2]
Những kinh nghiệm đó khẳng định rằng, công nghiệp văn hoá chính là lĩnh vực tạo ra đột phá trong tư duy quản lý và phát triển văn hoá, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế của văn hoá, đồng thời hình thành và củng cố sức mạnh mềm của mỗi quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
2. Định hướng phát triển của Đảng về ngành công nghiệp văn hoá ở nước ta hiện nay
Phát triển công nghiệp văn hoá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về đối nội và đối ngoại. Về đối nội, công nghiệp văn hoá góp phần phát huy hiệu quả các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, chuyển hoá các giá trị ấy thành những sản phẩm văn hoá có khả năng lưu thông trên thị trường, qua đó củng cố nền tảng tinh thần xã hội và gia tăng sức mạnh văn hoá quốc gia. Về đối ngoại, công nghiệp văn hoá là phương thức quan trọng để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, xây dựng thương hiệu quốc gia, nâng cao sức hấp dẫn của hàng hoá Việt Nam và tăng cường vị thế, uy tín của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng đã sớm đặt vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa như một nội dung trọng tâm trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (ngày 16/7/1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta đã khẳng định “Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế”. Đây là cơ sở nền tảng cho sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.
Hiện nay, công nghiệp văn hóa ở Việt Nam xác định bao gồm 12 lĩnh vực: Quảng cáo, Kiến trúc, Phần mềm và các trò chơi giải trí, Thủ công mỹ nghệ, Thiết kế, Điện ảnh, Xuất bản, Thời trang, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Truyền hình và phát thanh; Du lịch văn hóa. Thực tiễn thế giới cho thấy, đây là lĩnh vực có tiềm năng to lớn, được ví như “con gà đẻ trứng vàng” của nhiều nền kinh tế.
Đến Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã xác định rõ mục tiêu: “Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam” đồng thời đề ra nhiệm vụ “Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa”. Đây là động lực cho việc xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Quán triệt quan điểm của Đảng, ngày 08/6/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó khẳng định: “Các ngành công nghiệp văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút tối đa nguồn lực từ các doanh nghiệp và xã hội để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa”[3]. Đặc biệt, ngày 17/11/2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt ra mục tiêu “Phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả các ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa gắn với phát triển du lịch”[4].
Tiếp nối và phát triển tư duy đó, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết tiếp tục yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và con người, trong đó công nghiệp văn hóa được xác định là một động lực quan trọng, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thời kỳ mới.
Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh “Công nghiệp văn hoá đang trên đà phát triển”[5]. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng, thể hiện cách tiếp cận mới, coi công nghiệp văn hóa không chỉ là lĩnh vực bảo tồn giá trị tinh thần mà còn là ngành kinh tế giàu tiềm năng, có khả năng đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết số 80-NQ/TW không dừng ở việc khẳng định vai trò nền tảng của văn hóa, mà chuyển mạnh sang tư duy kiến tạo với những mục tiêu cụ thể: “Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá; xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới”
Để đánh thức tiềm năng, chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sức mạnh phát triển, các ngành công nghiệp văn hóa được xác định là một động lực tăng trưởng quan trọng, với mục tiêu “Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá , như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,...”. Đến năm 2045 “Công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP”. Đặc biệt, cam kết “bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn”.
Tầm nhìn đó cho thấy một cách tiếp cận mới: văn hóa không chỉ là giá trị tinh thần để gìn giữ, mà phải được “tổ chức” thành năng lực sản xuất hiện đại, tham gia trực tiếp vào nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và sức lan tỏa của sức mạnh mềm quốc gia. Nghị quyết đã mở ra niềm tin, kỳ vọng mới, công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững“hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước; khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hoá Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hoá, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại”.
III. KẾT LUẬN
Công nghiệp văn hoá không chỉ là một ngành kinh tế đặc thù, mà còn là động lực quan trọng trong phát triển bền vững, là công cụ hữu hiệu để phát huy sức mạnh mềm văn hoá dân tộc và tạo lợi thế chiến lược cho Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển. Nghị quyết số 80-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt khi gắn phát triển văn hóa với công nghiệp văn hóa và xây dựng thương hiệu sản phẩm văn hóa quốc gia, hướng tới năng lực “quốc gia kể chuyện”, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo để thúc đẩy hệ sinh thái sáng tạo, từ tổ chức sản xuất nội dung, phát triển thị trường, phân phối sản phẩm đến lan tỏa các biểu tượng văn hoá mang bản sắc Việt Nam ra khu vực và thế giới. Với những định hướng chiến lược của Đảng thể hiện rõ quyết tâm đưa công nghiệp văn hoá trở thành động lực tăng trưởng mới, nền tảng xây dựng thương hiệu quốc gia và công cụ gia tăng sức mạnh mềm, góp phần hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998, của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
3. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17/11/2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
5. Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Tác giả bài viết: ThS. Lưu Thuý Hiền

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây